Home Tìm Ca Dao Trợ Giúp Tìm Ca Dao Trang Chủ Toàn Bộ Danh Mục e-Cadao English

Thư Mục

 
Lời Phi Lộ
Lời Giới Thiệu
Cách Sử Dụng
Dẫn Giải
Diêu Dụng
Cảm Nghĩ
 
Ẩm Thực
Chợ Quê
Cội Nguồn
Cổ Tích
Lễ Hội
Lịch Sử
Ngôn Ngữ
Nhân Vật Nữ
Nhạc Cụ Việt Nam
Phong Tục Tập Quán
Quê Ta
Tiền Tệ Việt Nam
Tiểu Luận
Văn Minh Cổ
Vui Ca Dao
 
Trang Nhạc Dân Ca
 
Trang Chủ
 

 
 

 

 
 

Chùa Kh'Leang

Theo một tài liệu ghi chép từ thư tịch cổ Khmer thì vào giữa thế kỷ 16, viên quan cai quản vùng Sóc Trăng tên là Tác đã cho xây dựng một nhà kho để tích trữ sản vật do nhân dân quyên góp. Từ đó, ông đặt tên cho vùng đất mình cai quản là Srock - Khleang (tiếng Khmer có nghĩa là xứ có kho, khi người Kinh đến, gọi trại âm ra là Sóc Kha Lang rồi sau là Sóc Trăng).

Sau đó ông Tác vâng lệnh vua Chân Lạp cho xây dựng một ngôi chùa và lấy địa danh đặt tên cho chùa là chùa Kheang. Từ đó đến nay, tên chùa vẫn không thay đổi.

Chùa Khleang là một tổng thể kiến trúc gồm có: chính điện, sa-la (nhà hội của sư sãi và tín đồ), các nhà tụng của sư sãi, nhà của vị đại đức, trụ trì, các tháp để tro cốt người chết, lò thiêu người chết, hội trường… Toàn bộ các công trình toạ lạc trong một khuôn viên rộng có vòng rào bao quanh, diện tích trên 3.800 m2 (gần 4 ha), cổng chùa quay mặt về hướng đông.

Chùa thuộc phạm vi khóm 5, phường 6, thành phố Sóc Trăng; Đông giáp đường Mậu Thân; Nam giáp đường Nguyễn Chí Thanh, Tây và Bắc giáp khu dân cư. Chùa cách trung tâm thành phố Sóc Trăng gần 2 km.

Phương tiện đi đến chùa thuận tiện nhất là đi bằng đường bộ: từ trung tâm thành phố, qua đường Hai Bà Trưng, qua cầu C247, đi thẳng khoảng 500 m phía bên trái là đến chùa.

 

Cổng chùa Kh''''leang. Ảnh N.H

Hiện nay, tại chùa Khleang còn lưu trữ một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch gốc địa danh Sóc Trăng, sự kiện xây dựng ngôi chùa đầu tiên và các nhân vật có liên quan trực tiếp:

Vào đầu thế kỉ 16, vua của nước Chân Lạp là Ang Chăn tổ chức một chuyến đi kinh lý qua các lãnh địa xa xôi của mình ở vùng hạ lưu sông Hậu (lúc đó kinh đô đóng tại Lô-véc, thuộc nước Campuchia bấy giờ). Khi nhà vua dừng lại ngự giá ở Sóc Trăng một thời gian mà không thấy có ngôi chùa Phật nào, ngài bèn ra lệnh cho viên quan coi quản đất này phải xây dựng cho được một ngôi chùa để dân chúng có nơi hành đạo.

Vâng lệnh vua ban, năm 1532 ông Tác bèn triệu tập các tín đồ và đại diện dân sóc trong một cuộc hội nghị được tổ chức trọng thể để truyền đạt lệnh vua; đồng thời ông kêu gọi mọi người góp công, góp sức xây dựng ngôi chùa mới. Tất cả khi nghe tin này đều rất hân hoan và đồng ý góp phần vào sự kiện thiêng liêng này. Kế đó, ông Tác vạch rõ địa hình, địa thế của đất Sóc Trăng cho mọi người được rõ… Ở cả ba hướng: Đông, Tây, Nam đều là đầm lầy, kinh rạch, rừng hoang có nhiều thú dữ như cọp, voi, trâu rừng, rắn độc… còn hướng Bắc là nơi đất cát cao ráo, ruộng đồng bằng phẳng. Ai nấy đều tán thành địa điểm xây chùa ở hướng Bắc. Xong hội nghị, ông Tác liền mời mọi người theo ông đi về hướng Bắc, đến nơi ông hỏi ba lần: “Hỡi các vị sư và các ngài, đây là nơi có thể xây chùa được không?”, mọi người đồng thanh hô lên: “Rất tốt, đây là nơi rất tốt để chúng ta xây chùa, xin ngài hãy cho xây một ngôi chùa nơi đây để chúng tôi lưu lại phước đức cho đời sau”.

Địa điểm xây chùa đã được xác định, ông Tác cho người đo đạc đất đai, khoanh vùng một khoảnh đất hình vuông rộng 4 ha, đóng cọc 8 hướng làm ranh giới. Sau đó, chọn ngày tốt để làm lễ Krong Phum (tức lễ khởi công xây chùa, Krong Phum có nghĩa là các vị thần và các tổ sư nghề nghiệp trong phum sóc). Khi cuộc lễ kết thúc một lần nữa, ông Tác kêu gọi: “Tôi xin mọi người hãy đem lời kêu gọi của tôi đi vận động thân quyến và dân trong toàn sóc, giải thích cho tất cả được rõ ý nghĩa của việc làm này, hãy vì lòng tin tưởng đức Phật, vì lòng hảo tâm mà đến đây đông đảo để xây dựng nhà chùa. Nhưng mọi người cần lưu ý việc làm này không phải do sự cưỡng ép hoặc hăm doạ, mà vì tấm lòng thành kính với đức Phật mà tự nguyện đóng góp. Dù đóng góp bằng sức lực hoặc của cải vật chất, tinh thần tôi cũng xin mời mọi người hiệp sức xây dựng để lấy phước đức và lòng được thanh thản.”

Kế hoạch xây chùa được vạch ra như sau:

- Ngày khởi công là ngày 16 tháng 12 Phật Lịch 2076 (tức vào năm 1532 dương lịch).
- Khai phá rừng rậm từ nơi ông Tác ở cho đến địa điểm xây chùa.
- Xây hàng rào vững chắc cho khu chùa và khu ông Tác để phòng ngừa thú dữ.
- Xây nhà tạm cho lực lượng nhân công ở.
- Chùa được chia thành ba hạng mục chính:
+ Lấy đất từ ba cái ao,
+ Chính giữa xây ngôi chính điện bằng gỗ lợp lá,
+ Hướng đông bắc xây sa-la, am, nhà bếp… cũng bằng gỗ lợp lá.
- Sau khi xây cất xong sẽ mời sư sãi đến làm lễ khánh thành.
- Lễ khánh thành sẽ được kéo dài trong một tuần lễ.

Một thời gian sau khi ngôi chùa mới hoàn thành, ông Tác lại tổ chức hội nghị để chọn nhà sư trụ trì của chùa. Kết quả, hội nghị đã chọn ông Thạch Sóc 61 tuổi, thọ giới đã 40 năm, lúc đó đang tu tại chùa Luông Bassac (thuộc phạm vi huyện Mỹ Xuyên).Ông Thạch Sóc còn kiêm luôn chức vụ Mê Kôn (chức vụ đứng đầu hội sư sãi của một vùng lúc đó), còn sư phó và các chức vụ khác trong ban trị sự do ông Thạch Sóc chọn.

Ngôi chùa đầu tiên không biết tồn tại đến bao lâu, theo các vị sư hiện nay cho biết, ngôi chính điện và sa-la mà chúng ta đang nhìn thấy đã được xây dựng lại hoàn toàn mới vào năm 1918. Theo lời một lão nghệ nhân, trong nhóm thợ xây dựng ngôi chính điện có hai nghệ nhân được rước về từ Campuchia tên là Chao và Clao, ngoài ra không tìm thấy tư liệu nào có liên quan đến việc xây dựng ngôi chính điện từ trước năm 1918.

Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1918 (hiện nay không còn vết tích của ngôi chính điện cũ), có chiều dài 24 m, chiều rộng 13 m, được dựng lên trên một nền cao hơn mặt đất gần 2 m, nền gồm có ba bậc: bậc 1 cao 1m, các bậc hai 7m tạo thành vòng sân đường nội bộ (để làm lễ), bậc 2 cao 0,8 m cách nền 3 là 4,5m có dựng hàng rào bao quanh và trang trí hoa văn. Bậc nền 3 là mặt bằng ngoài tráng một lớp xi-măng vôi có trang trí hoa văn theo các hoạ tiết riêng biệt hình cánh sen hoặc các hình khối, tạo thành những đường viền cách vách chính điện 1,50 m thành một vòng hành lang xung quanh chính điện.

Chùa Kh''''leang. Ảnh: V.L

Mặt bằng chính điện hình chữ nhật chạy dài theo hướng Đông -Tây (cửa vào quay ra hướng Đông). Chính điện được dựng bằng 06 hàng cột dọc gồm: 60 cây cột trụ, hàng 1 được dựng lan can hoa văn, hàng 2 là hàng trụ vách, hàng 3 xác định gian giữa gồm 05 gian. Trên 12 thân cột ở hai hàng thứ 3 có hoa văn viền ở phần đầu và chân cột chạm hình hoa sen. Đặc biệt hình hoa sen ở chân cột ngắn hơn ở đoạn đầu cột. Do đó, khi nhìn ta có cảm giác hai đoạn này cân xứng nhau. Giữa hai đoạn này là phần gỗ được sơn mài đen, vẽ hình rồng hoa lá bằng nhũ vàng theo mô típ của Trung Quốc. Chân vách phía bên ngoài được chạm nổi những dãy hoa văn kết hợp thành một đường viền bao quanh ngôi chánh điện có chiều cao 1,30 m, chỗ giới hạn trên đường viền được đặt cửa sổ dọc theo tường dài, mỗi bên có 07 khung, cửa ra vào được đặt ở hai đầu chính điện, mỗi đầu có 02 khung, cửa sổ có kích thước theo tỉ lệ 1/2 (1,2 m x 2,4 m), cửa cái cũng có tỉ lệ kích thước là 1/2 (1,6 m x 3,2 m).

Phía trên mỗi khung cửa là một ô trang trí hoa văn được đắp nổi bằng xi-măng dạng chiếc mũ sơn màu vôi đỏ hình tam giác cân, hai cạnh bên lõm vào, hai góc đáy cong lên. Toàn bộ khung và cánh cửa của ngôi chính điện chùa là một kì công của nghệ thuật khắc gỗ. Nơi đây còn lưu lại dấu vết, tài năng khắc gỗ của nghệ nhân Khmer mà ta ít thấy ở nơi khác trên Đồng bằng sông Cửu Long. Trên hai cánh cửa gỗ, các nghệ nhân thể hiện cuộc giao đấu giữa tiên nữ và chằn (Yeak). Cả hai nhân vật một đại diện cho cái thiện, một cho cái ác quyết tâm giao đấu một mất, một còn. Mình mặc giáp trụ, đầu đội mũ nhọn, người thì đứng trên Reach cha sei, kẻ thì đứng trên Krud cả hai có vẻ trông như ngang tài ngang sức. Bên cạnh đó là một hệ thống hoa văn chi chít những hoạ tiết, bố cục gọn gàng đầy đủ, đường nét uốn lượn, uyển chuyển, nét đục chắc khoẻ, tỉ mỉ, làm ta liên tưởng đến đôi bàn tay khéo léo, sự kiên nhẫn lâu dài, bộ óc thông minh sáng tạo của người nghệ sĩ.

Một điểm đặc biệt cho ta thấy là các nhân vật được khắc chạm trên khung cửa chính điện chùa Khleang đều phục sức theo lối Khmer cổ. Trên thân mỗi bộ quần áo người ta thấy chi chít những nét chạm hoa văn. Căn cứ vào bộ trang phục của các nhân vật, ta thấy những hoạ tiết được kết hợp bằng các loại hình học (vuông, tròn, chữ nhật, tam giác, hình thoi…).

Trên mái có các trang trí như là hình vượn, rồng được xếp ở những ranh giới mà mái được nâng lên. Hình tượng rồng của người Khmer khác với người Kinh và Hoa.

Đầu rồng mảnh mai, có sừng nhọn, uốn lượn, thân rồng là thân của một loại cá (poo-cor) nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao móc nhọn cong về phía đuôi, hình tượng rồng cũng được bố trí theo chiều dài đòn dông, nhưng đây là sự kết thúc của tầng mái có độ cao nhất. Ở đây hình đầu rồng được đơn giản hoá, chỉ còn mang hình dáng và chỉ lấy đặc trưng làm cơ sở để biểu hiện.

Ngoài ra, chung quanh chính điện còn có các tượng khác. Trên tấm đà ngang ở cổng rào bậc nền 2 và dưới chân cột ngôi chính điện có các hình tượng với gương mặt hung dữ như thần Reahu được đắp nổi bằng xi-măng với đôi mắt nổi trợn trừng, nhe răng thè lưỡi, tóc dựng ngược phun ra những trận cuồng phong. Ngoài ra trên đầu hàng rào người ta còn dựng các tượng chằn bằng xi-măng cao khoảng 1,3 m đứng cầm trượng chống đất trong tư thế bảo vệ chính điện và đức Phật, mình mặc giáp trụ gương mặt trông thật hung tợn.

Ngoài và trong chính điện chúng ta còn bắt gặp những mô típ tượng khác: hình chim muông hoa lá, hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, nhất là bao quanh phía trong chánh điện có các hình hoạ mô tả về các tích của đức Phật Thích Ca từ lúc sinh ra cho đến khi đắc đạo. Những hình tượng trên góp phần làm sinh động thêm ngôi chính điện trang nghiêm của chùa Khleang.

Hiện nay, trong chùa Khleang có các hiện vật sau:

- Phật Thích Ca: tổng cộng 45 tượng (01 tượng ngồi thiền định cao 2,5 m bằng ciment, 04 tượng bằng đá trắng cao từ 1m đến 1,8 m, 06 tượng đồng cao từ 0,2 m đến 0,4 m, 29 tượng gỗ cao từ 0,2 m đến 0,5 m).
- 02 tủ bằng gỗ chạm hoa văn sơn son thiếp vàng.
- 01 ngai thuyết pháp bằng gỗ chạm hoa văn cao 1,2 m.
- 01 tượng đồng Apsara cao 0,65 m.
- Khoảng 30 đồ dùng sinh hoạt bằng bạc, đồng, gỗ, nhựa… để trong tủ nơi chính điện.

Đến với thành phố Sóc Trăng, tìm thăm chùa Khleang để thấy được sức hấp dẫn của một công trình nghệ thuật độc đáo. Ở đó, các thiếu nữ Khmer trong trang phục truyền thống vào những ngày lễ tết cổ truyền của dân tộc mình thật sinh động như những vũ nữ Apsara trong điệu múa cổ truyền với sự dịu dàng, uyển chuyển theo dàn nhạc ngũ âm vang lên từ không gian cổ kính của ngôi chùa. Dưới ánh nắng vàng rực rỡ xuyên qua những tán lá của cây sao, cây dầu… những ngọn tháp nhọn hoắt vươn thẳng lên bầu trời làm đẹp thêm ngôi chùa lâu đời của vùng đất Sóc Trăng, vùng văn hoá có ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống. Ngày 27/4/1990 Theo Quyết định số 84/QĐ-BVHTT, Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận di tích chùa Khleang thuộc khóm 5, phường 6, thành phố Sóc Trăng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.

Chùa Khleang mang giá trị lịch sử, nghệ thuật là một công trình kiến trúc thẩm mỹ hài hoà, cân xứng nhất; là ngôi chính điện gắn liền với những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đa dạng mà hầu hết thể hiện nét đặc trưng trong nghệ thuật truyền thống của người Khmer. Đồng thời cũng có những nét thể hiện tính giao thoa của người Việt, Hoa. Do điều kiện trên chùa Khleang được xem là một trong những công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Di tích này đã và đang được bảo quản, bảo tồn nhằm phát huy bản sắc văn hoá Khmer nói riêng và văn hoá chùa trên vùng đất Sóc Trăng nói chung. Đây là một công trình nghệ thuật độc đáo của các bậc tiền nhân mà tuổi trẻ hôm nay phải biết, kế thừa, gìn giữ và phát huy.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tư liệu: “Đất nước, con người thị xã Sóc Trăng” của Ban Tuyên Giáo thị xã Sóc Trăng.
2. Tìm hiểu vốn văn hoá dân tộc Khmer Nam Bộ, Nxb Tổng hợp Hậu Giang, năm 1988.
3. Gia Định thành thông chí - Trịnh Hoài Đức (tập thượng), Nxb Phủ Quốc vụ khanh, năm 1972.
4. Tìm hiểu đất Hậu Giang - Sơn Nam, Nxb Phù Sa, năm 1959.
5. Tư liệu lưu trữ tại chùa Khleang, chép tay bằng tiếng Khmer.
6. Mấy đặc điểm văn hoá Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hoá xuất bản năm 1934.
7. Lịch sử Cam-Pu-Chia, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, năm 1982.

 

Nguồn: soctrang.edu.vn

 

Sưu Tầm Tài Liệu và Web Design

  Hà Phương Hoài

Hỗ Trợ Kỹ Thuật

Hoàng Vân, Julia Nguyễn

Web Database

Nguyễn Hoàng Dũng
Xin vui lòng liên lạc với  haphuonghoai@gmail.com về tất cả những gì liên quan đến trang web nầy
Copyright © 2003 Trang Ca Dao và Tục Ngữ
Last modified: 03/12/18