|
Điều kỳ lạ là trong
các đền đài miếu mạo, người ta tôn thờ, hoặc là thờ nhân thần - những
người có công với đất nước, hoặc là thờ thiên thần, được coi là các bậc
linh thiêng màu nhiệm trở che cho dân chúng. Nhưng ở Phủ
Dày thờ bà Liễu
Hạnh, một vị thánh linh mang cả hai màu sắc thực và ảo.
Bà Liễu Hạnh theo
như các sách, truyện hoặc thần phả c̣n chép lại, bà sinh năm Đinh Tỵ
(1557), triều vua Lê Anh Tôn, tháng Th́n (tháng 3), ngày Dần, giờ Dần
(Khoảng 5 giờ sáng ngày mồng con ông Lê Công Chính và bà Trần Thị Phúc,
tại làng Vân Cát. Năm 18 tuổi lấy chồng là Đào Long ở làng Tiên Hương, kế
ngay làng Vân Cát. Năm 21 tuổi không bệnh mà mất, để lại một con thơ. Ngày
nay hai làng Vân Cát và Tiên Hương đều lập phủ thờ bà.
Bao trùm lên các sự
thật đó, là các huyền thoại đan xen. Nào là trước khi bà Liễu Hạnh chào
đời, Lê Công mơ thấy có thiên sứ áp dẫn ông về trời. Tại đây, ông chứng
kiến cảnh nàng Quỳnh Nương tiên chúa làm vỡ chén ngọc, bị Ngọc Hoàng đẩy
xuống cơi trần 21 năm. Sinh con, Lê Công đặt tên là Lê Thị Thắng. V́ ứng
với điềm trong mộng, Lê Công mang hiệu Giáng Tiên (tiên giáng
trần).
Tiếp đó là các
huyền thoại hiển linh của bà. Nào là bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc. Nào là
hội kiến với trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), nhân
chuyến ông đi xứ Trung
Quốc về tới địa đầu tỉnh Lạng Sơn. Và việc ông dựng tại đó ngôi Minh
Thiên
tự phủ thờ bà. Rồi ở phố Cát huyện Thạch Thành, Thanh Hoá và cả ở trong
Huế cũng có đền Ngọc Trân do bà Quốc Thái dựng lên thờ bà Liễu Hạnh. Độc
đáo hơn cả là làng Tây Hồ - Hà Nội, cũng có một phủ thờ bà Liễu Hạnh.
Trong phủ c̣n trạm khắc cả một bài thơ do cuộc du ngoạn tao phong giữa
trạng Bùng với bà.
Chuyện kể rằng,
nhân một bữa Phùng Khắc Khoan cùng hai bạn thơ đang bơi thuyền ngắm trăng
hồ Tây, bỗng gặp một cô gái đi chiếc thuyền nhỏ. Ba người hỏi chuyện và
cùng nhau làm thơ sướng hoạ. Cảm kích, 3 người định mời cô lên bờ đàm đạo
th́ thuyền nhỏ lẫn vào sương mù biến mất. Trong lúc mọi người c̣n đang ngơ
ngác, chợt có một làn gió nhẹ làm bay tới một tờ giấy màu hồng, nhặt lên
xem th́ có một bài thơ như sau:
|
Vân tắc y
thường phong tác xa Triệu du đâu xuất mộ yên hà Thế nhân dục
thức ngô danh tính "Nhất đại sơn lâm Ngọc Quỳnh
hoa" |
Dịch nghĩa:
Mây làm xiêm
áo, gió làm xe Sớm dạo cơi thanh tịnh, tối chơi yên hà Người
trần thế muốn biết họ tên ta một đời trên non với hoa Ngọc
Quỳnh. |
"Người trên non" là
chữ "tiên" do hai chữ nhân (người) và chữ sơn (núi) ghép lại. Hai chữ Ngọc
và chữ Quỳnh ghép lại chữ Quỳnh. Cả bốn câu có nghía là: "Tiên Quỳnh
Hoa".
Có ở nơi đâu xứ sở
này, hiện thực và huyền thoại quấn quít bên đan xen như một bài thơ làm
đẹp thêm cho đời. Nếu tước đi phần huyền thoại, mà người ta gán cho cái
tên "mê tín" hoặc "dị đoan", thị sự tích bà Liễu Hạnh trần trụi quá. Và
nếu như có tước đi cái phần ảo đó, ta vẫn c̣n được một thắng cảnh Vân Cát
– Tiên Hương đáng cho đời chiêm ngưỡng. Ta cũng c̣n được những ngày vui
hàng năm với hàng trục vạn trai thanh gái lịch dập d́u chảy hội và từ đó
bồi đắp thêm cho cuộc sống trần gian ngắn ngủi, cho ngày xuân của ta chắp
cánh bay lên. Nhưng thử hỏi mất đi phần huyên thoại, nhân loại c̣n là nhân
loại nữa không.
|