Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Ca Dao và Tục Ngữ
 Tiểu Luận
 Văn hóa truyền thống
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 08/11/2007 :  03:49:28  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Giới thiệu

Đa dạng và phong phú văn hóa truyền thống của dân tộc M'nông


Cũng như nhiều dân tộc bản địa khác ở Tây Nguyên, dân tộc M'nông trong quá trình lao động, đấu tranh để tồn tại và phát triển, đã sản sinh ra một nền văn hóa khá phong phú và giàu bản sắc dân tộc, trở thành một bông hoa, ngát hương trong vườn hoa đặc sắc của dân tộc Việt Nam.
Trước hết phải kể đến kho tàng văn học dân gian truyền miệng rất giàu có, bao gồm ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện cổ, truyền thuyết, ngụ ngôn, trường ca... Đồng bào M'nông ở Đắk Nông còn lưu giữ khá nhiều di sản văn hóa quý giá này, và bước đầu đã được khai thác, công bố trong một số công trình văn hóa dân gian. Hiện nay, nhiều nghệ nhân ở trong tỉnh còn thuộc khá nhiều Ôt N'rông (trường ca) như trường ca Cây nêu thần(Tâm Ngết), trường ca Mùa rẫy Bon Tiăng với 4 chương, dài 200 trang ... Ngoài ra còn có hàng vạn câu ca dao, tục ngữ, lời nói vần (Nao M'pring) được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, còn tiềm ẩn trong trí nhớ của đồng bào. Hiện ở xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong còn lưu truyền câu chuyện Tiên Longnói về nguồn gốc ra đời của dân tộc M'nông, với chứng tích để lại là dấu của một chiếc móng rồng còn hằn sâu trên một tảng đá lớn. Được sinh ra và lớn lên trên một cao nguyên mênh mông huyền bí và hùng vĩ, nên từ ngàn xưa trong đời sống của đồng bào M'nông không mấy khi thiếu vắng những bài ca, điệu múa, tiếng đàn.
Về nhạc cụ dân gian, tuy còn thô sơ nhưng lại hết sức phong phú về số lượng và chủng loại: bộ gõ có dàn chiêng (cĩng), trống (Đing Gơr); bộ dây có Gông ring; bộ hơi có Rlét, Mboăt và đàn môi (guốc), đàn đá cũng đã được phát hiện ở một số địa phương trong tỉnh như ở Quảng Tín (Đắk R’lấp) và việc một số nghệ nhân ở xã Trường Xuân (Đắk Song), xã Quảng Tín (Đắk R’lấp) đều biết sử dụng đàn đá một cách thành thạo, theo những bản nhạc cổ truyền của dân tộc M'nông, đã cho phép chúng ta dự đoán Đắk Nông cũng là một trong những cái nôi sản sinh ra đàn đá.
Người M'nông ở Đắk Nông có đời sống ca hát dân gian rất phong phú và đa dạng. Bởi khi chưa có chữ viết riêng thì hình thức truyền miệng được coi là phương tiện chủ yếu để đồng bào chuyển tải văn hóa từ vùng này tới vùng khác, từ đời này sang đời khác.
Nhóm M'nông Preh có hình thức kể chuyện thơ (Ngơn Borah), hoặc hình thức kể chuyện cổ bằng văn vần (Tăm N'dring). Nhóm M'nông Noong có M'Prơ ca hát trữ tình - tức hát đối đáp nam nữ... Ngoài ra, đồng bào M'nông ở Đắk Nông còn lưu trữ một số hình thức dân ca khác như: ru con (chiêng con), hát đối (tăm hôr), hát khóc (M'im bôk, M'im khít), hát kể gia phả (Nkok yao) và Ôt N’rông hình thức hát kể về một câu chuyện xa xưa.
Cũng như các dân tộc bản địa khác ở Tây Nguyên, người M'nông ở Đắk Nông cũng có cả một hệ thống lễ nghi rất phong phú như: Nhóm lễ nghi về nông nghiệp, có lễ đốt rẫy, lễ trừ sâu bọ, lễ cúng lúa sắp trỗ đòng, lễ cúng lúa trổ bông, lễ tuốt lúa, lễ tổng kết lúa ...; nhóm lễ nghi về vòng đời người, có lễ sinh đẻ, lễ đặt tên, lễ trưởng thành, lễ mừng sức khỏe, lễ cưới, lễ tang; nhóm nghi lễ gia đình, có lễ nghi làm nhà mới, lễ cúng có người trong nhà sắp đi xa, lễ cúng cho người thân trong nhà đi xa mới trở về, lễ cúng voi...; nhóm lễ nghi cộng đồng, có lễ săn được 100 con thú, lễ cúng trước khi đi săn... Cộng đồng dân tộc M'nông ở Đắk Nông còn lưu giữ cả một hệ thống luật tục (Phat Ktuôi) dưới hình thức văn vần, truyền miệng. Nội dung của luật tục đề cập tới hầu hết các mối quan hệ xã hội như: vấn đề hôn nhân và gia đình, vấn đề phong tục, tín ngưỡng, vấn đề xâm phạm cơ thể con người và những vấn đề tranh chấp tài sản của cải. Luật tục cũng quy định rõ những điều được làm và những điều không được làm, nếu vi phạm thì phân xử như thế nào. Xã hội cổ truyền M'nông được vận hành theo luật tục, cũng do bị chi phối của luật tục nên đồng bào N'nông vẫn còn bảo lưu dai dẳng chế độ mẫu hệ, con gái có tục đi bắt chồng... Cũng do mê tín, dị đoan nên đồng bào M'nông trước đây tin có Ma lai ăn thịt người. Đến nay do trình độ dân trí đã được nâng lên và sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các dân tộc, giữa các vùng, miền nên nhiều lễ nghi, luật tục phiền toái, lạc hậu đã được đồng bào tự nguyện xóa bỏ để dành thời gian và của cải cho việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Đắk Nông là một tỉnh giàu tiềm năng về tài nguyên, thiên nhiên để phát triển một nền kinh tế nông- lâm nghiệp- công nghiệp, chế biến - dịch vụ và du lịch. Con người Đắk Nông cũng rất dũng cảm, ngoan cường trong đấu tranh bảo vệ quê quê hương, Tổ quốc trước đây và rất cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất hiện nay; đồng thời có một nền văn hoá truyền thống lâu đời hết sức phong phú và đặc sắc, đến nay nhiều lễ nghi, lễ hội vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn. Để khai thác và phát huy có hiệu quả những nhân tố thuận lợi đó, Đảng bộ tỉnh Đắk Nông đã và đang đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm phát huy sức mạnh nội lực, tranh thủ tối đa sự đầu tư hợp tác của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng Đắk Nông trở thành một tỉnh giàu, đẹp. Đồng thời, giữ gìn và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc sinh sống trên địa bàn, đặc biệt là truyền thống văn hóa phong phú, độc đáo của dân tộc M'nông.





www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 08/11/2007 :  21:21:06  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
Chào Tieuboingoan
Lâu lắm mới ghé thăm trang
Cám ơn TBN đã đưa vào trang bài Văn Hóa M'nong. Ước gì mình hiểu được ngôn ngữ của họ
Thân chúc luôn mạnh và vui tươi
Ca Dao

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 07/03/2009 :  09:52:50  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

Yếu tố Việt Mường và Tày Thái trong nền văn hoá dân gian đất Tổ

Việt - Mường và Tày - Thái là hai nhóm chính của người Việt cổ cư trú ở đất Tổ Phú Thọ. Văn hoá vùng đất Tổ vì thế mang đậm sắc thái văn hoá Việt – Mường và Tày – Thái.

Đoạn sông Hồng chảy qua Phú Thọ được mang tên theo ngữ hệ Tày – Thái là dòng Nậm Tao, dịch ra tiếng Việt là sông Thao. “Sông Thao nước đục người đen”, “Ai lên phố Ẻn thì quên đường về” (ca dao K.C chống Pháp).

Dọc bờ hữu ngạn sông Thao xa xưa là địa vực cư trú của người Tày Thái cổ. Thời Hùng Vương một bộ tộc người Tày, họ Ma cư trú ở vùng chân núi Đọi Đèn thuộc huyện Sông Thao. Ông tổ họ Ma, tên là Ma Khê được Vua Hùng phong làm Lương Tướng. ở Văn Khúc vị Lương Tướng họ Ma thường hội kiến với Vua Hùng và Nguyễn Tuấn sau được hoá thân thành thánh Tản Viên, người Mường. Đình làng Văn Khúc thờ Ma Khê có sắc phong ông là “Phụ Quốc đại thần đại tướng quân Ma Khê” vì tương truyền ông được vua phong chức quan đầu triều lo bề chính sự thay vua cha khi già yếu và giúp vị Vua trẻ lúc mới kế vị ngai vàng. Ma Khê lấy người con gái ở chân núi Vi, cạnh Đền Hùng. Về sau ông chuyển cả bộ tộc sang tả ngạn Sông Thao. Con trai ông là Ma Xuân cho đắp thành trồng luỹ gọi là Ma Thành, gọi chệch là thành Mè. Ngày nay thị xã Phú Thọ có chợ Mè và ở Phú An có đền thờ ông là vì vậy. Vào thời loạn lạc 12 xứ quân cát cứ, cháu chắt Ma Khê là Ma Xuân Trường cầm đầu Ma tộc trấn giữ thành Mè. Khi thành Hội Hồ (ở làng Văn Khúc) bị thất thủ, tướng quân Kiều Công Thuận chạy sang Ma Thành cùng với Ma Xuân Trường chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Kiều Công Thuận tử trận. Ma Xuân Trường chạy lên Tuần Quán, Trấn Yên, Yên Bái. Sau mất ở đấy, được dân làng lập đền thờ và Đinh Bộ Lĩnh vì thán phục uy đức mà truy phong ông là “Ma tộc thần tướng”. Nay ở làng Trù Mật, thị xã Phú Thọ cũng có đền thờ Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường. Dòng họ Ma nay cư trú ở thị xã Phú Thọ, Lâm Thao hậu duệ của bộ tộc ấy hiện có một chi nhánh cư trú ở Việt Trì có gia đình cụ Ma Văn Thực nguyên chủ nhiệm Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp Vĩnh Phú là thân sinh ca sĩ Ma Thị Bích Việt. Hiếm có dòng họ nào còn lưu giữ được thần phả, gia phả từ thời Hùng Vương như họ Ma ở Phú Thọ. Họ Ma gốc Tày cũng như nhiều họ gốc Mường: Đinh, Quách, Bạch, Hà... là những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh.

Các truyền thuyết về Ma Khê và Tản Viên ở vùng Đất Tổ cũng nói đến sự hội nhập của hai nhóm Việt – Mường và Tày – Thái ở Phú Thọ. Tản Viên chính là người Mường. Dù Tản Viên đã được thần thoại hoá đến hoang đường nhưng bóc bỏ lớp huyền thoại ta vẫn tìm được lõi thật lịch sự ông là con một bà làng Yên Sơn. Bà lấy chồng rồi về sống, sinh đẻ Tản Viên ở Động Lăng Xương, làng Trung Nghĩa bên bờ sông Đà thuộc Phú Thọ. Ông được dân gian tôn sùng đắp vẽ thành một thần tượng cộng đồng, vừa là anh hùng trận mạc vừa là anh hùng văn hoá. Ông đánh giặc tài lại có công chống lại Thuỷ Tinh biểu tượng của thiên tai lũ lụt. Ông là người anh linh nghĩa cử khước từ ngôi báu, khuyên vua cha nhường ngôi cho Thục Phán để muôn dân thái bình. Thục Phán cũng là gốc Tày – Thái quản lĩnh miền rừng núi phía trên nước Lạc Việt của các Vua Hùng.

Yếu tố Việt – Mường và Tày – Thái có biểu hiện ở sự pha trộn ngôn ngữ. Ngôn ngữ Tày – Thái gọi tre là pheo, gọi chim là chóc, gọi chó là má, gọi thật là chăn để đan xen thành những từ ghép trong tiếng Việt như: tre pheo, chim chóc, chó má, chân thật. Cũng ghép như vậy với tiếng Mường để có các từ ghép: cá mú, nắng nôi, v.v...

Ở khu di tích Đền Hùng có 3 quả núi thiêng, tam sơn cấm địa. Trong đó có núi Nỏn, cạnh núi Nghĩa Lĩnh đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái: Nỏn là út vì thế quả núi còn tên nôm thuần Việt một âm tiết là núi Út.

Xoè là điệu múa dân gian của đồng bào Thái. Người Mường ở các xã sát Sơn La, Nghĩa Lộ xưa cũng hay múa xoè. Phụ nữ Mường ở các xã đó tuy mặc áo cóm và áo dài kiểu Mường truyền thống nhưng khuy cài cúc cũng khâu giải ngang, cổ và hai nẹp áo trước ngực cũng thêu như áo phụ nữ Thái, và đầu vấn khăn piêu theo kiểu Thái. Người Mường ở vùng này cũng gọi quan đầu Mường của mình là ông quan ngài như người Thái.

Có một họ Hà thờ con cuốc vì truyền thuyết họ Hà này cùng họ hàng với Thục Đế (họ Thục Phán). Con cuốc là tổ tiên của Thục Phán (theo tô tem giáo).

Vùng Mường ở Phú Thọ vì thế có pha trộn văn hoá Tày – Thái ở cận kề.

Tiếng Mường và Tày – Thái đều gọi ruộng là na hoặc nà. Ở vùng người Việt Phú Thọ cũng nhiều nơi gọi ruộng là na như ở Tứ Xã (1 xóm) Sơn Vi, Do Nghĩa, Hà Thạch, Thuỵ Vân. Làng Cao Xá có những khu đồng như: Nà Pheo, Nà Giũa, Nà Đỏ v.v...

Một tấm bia trên Đền Hùng có 50% số địa danh được ghi là na như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng v.v... (theo Lê Tượng Nguyên Trương Ban Quản Lý Đền Hùng).

Vì nước Văn Lang thời các Vua Hùng là nước của người Lạc Việt (Việt – Mường) nên yếu tố Mường đậm đặc hơn yếu tố Tày – Thái trong nền văn hoá dân gian vùng Đất Tổ.

Người Việt ở Phú Thọ cũng như ở các nơi gọi điểm tụ cư là kẻ, chạ, thôn, làng. Trước đây người Mường thường vẫn gọi điểm tụ cư của mình là động. Triều đình gọi là các động Man. ở Phú Thọ cũng có các địa danh gọi là động như động Khuất Lão ở huyện Tam Nông, động Lăng Xương ở Thanh Thuỷ – thị xã Phú Thọ cũng có thời gọi là Phú An động. Thị trấn Hưng Hoá gọi Hoa Nham động. Làng Cự Đà (Phù Ninh) thời nhà Lý còn gọi là động Cự Đà, làng Văn Khúc là động Hoa Khê, v.v...

Người Mường có tục gọi vía lúa. Những năm mất mùa người ta phải đi gọi vía lúa về làng bản của mình. Người ta phải làm lễ cúng vía lúa rồi thầy mo hoặc một người hát rang gọi vía lúa, rủ rê vía lúa về với mình.

Nhiều làng Việt cũng có tục rước bông lúa thần trong lễ hội làng mình. Người Việt gọi là thần lúa cũng bắt nguồn từ người Việt – Mường gọi thần lúa và vía lúa. Vì có truyền thuyết Vua Hùng từng đứng trên núi Nghĩa Lĩnh gọi vía lúa nên ở Đền Hùng xưa cũng thờ hạt lúa bằng gỗ đóng to như thuyền một cắng.

Nếu như người Mường thuộc Mường Kịt có bài hát rang gọi vía lúa như sau:

“...Lúa nương thì ở phương xa”

“Lúa nhà thì ở phương gần”

“Về cúng mâm cơm mâm rượu”

“Vui từ cửa từ nhà”

“Sáng ngày mai vui ra đồng ruộng”...

Thì người Việt ở làng Nam Cường (huyện Tam Nông) lại có tục múa mo. Có chúa mo đứng chủ trò. Chúa mo có nguồn gốc từ các ông mo là người hoạt động về tín ngưỡng, tâm linh của các cộng đồng người Mường. Chúa mo ở Nam Cường hát gọi:

“Trong làng cây muống”

“Làng ta làm ruộng”

“Lúa tốt đề đa”

“Là hú ha ha!”

“Là hú hơ hơ!”

Các lễ hội về mùa màng của người Việt cũng gần giống như của người Mường: Lễ hạ điền, thượng điền, cơm mới v.v...

Nhiều làng Mường và Việt ở Phú Thọ cùng thờ Tản Viên làm Thành Hoàng.

Nếu như nhiều làng Mường thờ dâm thần như ở Thu Cúc xưa có đình miếu thờ nam thần dâm ở xóm Quẽ, nữ thần dâm ở Đồng Than thì nhiều làng Việt ở Tam Nông, Lâm Thao, Cẩm Khê cũng có tục cầu thờ sinh thực khí như thờ nõ nường ở Tứ Xã, Sai Nga. Thờ Kén (30 cặp sinh thực khí nam) ở làng Dị Nậu v.v...

Nếu như người Mường làm nhà mồ chia của cho người chết thì người Việt cũng có tục đem theo đồ dùng cho người chết gọi là đồ tuỳ táng.

Các hình thức cưới xin của người Việt cũng tương tự người Mường như tục nòm (ăn hỏi) đưa đón dâu, của hồi môn v.v... Người Việt và người Mường đều có các trò chơi ném còn, cướp phết; từ đu cọn của người Mường, người Việt đã làm ra đu tiên. Cả hai dân tộc đều hát ví, hát đúm...

Người Mường Thanh Sơn có tục hát nàng bung nàng bạn. Những đêm trăng thanh gió mát các nhà mày (đạo diễn) trải 6 chiếu ra bãi cỏ cho nam thanh nữ tú vào hát đua tài. Có hát các tích truyện thơ Mường. Chỉ có hát mà chưa có diễn. Có tích nhưng chưa dịch ra trò. Phải chăng chiếu làng bung, làng bạn là tiền thân chiếu chèo của người Việt ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ.

Văn hoá vùng Đất Tổ là sự kế thừa phát huy văn hoá gốc Lạc Việt (Việt Mường), Tày – Thái và tiếp thu các dòng văn hoá khác qua hàng ngàn năm giao thoa hội nhập với các vùng khác, các tộc người khác.

Việt Báo (Theo Phú Thọ Portal

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 07/03/2009 :  09:59:57  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Chợ Việt Nam - Nét văn hoá dân tộc Việt

Chợ Việt Nam có lẽ được hình thành từ thời lập quốc, theo truyền thuyết từ thời Hùng Vương, người Việt đã biết giao lưu buôn bán với nước ngoài, chợ là nơi trao đổi hàng hóa, sản phẩm giữa các cộng đồng người khác nhau. Cùng với tiền trình của lịch sử dân tộc, Chợ Việt Nam còn mang đậm dấu ấn văn hóa.

Chợ là nơi giao duyên

Người đến chợ không chỉ để trao đổi các sản phẩm và tìm kiếm những sản phẩm thiết yếu của mình, mà còn để gặp gỡ, trao đổi thông tin và tình cảm. Nói đến những phiên chợ tình thì người ta nghĩ ngay tới các phiên chợ của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Phiên chợ Bắc Hà được coi là một trong 10 phiên chợ hấp dẫn nhất Đông Nam Á có lẽ cũng vì đặc điểm độc đáo này. Ngay từ khi tỉnh Lào Cai được thành lập thì chợ Bắc Hà được hình thành tại Châu Bắc Hà. Từ đó đến nay chợ Bắc Hà bao giờ cũng chỉ họp mỗi tuần một phiên vào ngày Chủ nhật, nó không chỉ đơn thuần là nơi mua và bán như các chợ khác mà nó còn là nơi giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em trong vùng Tây Bắc.



Chợ phiên Bắc Hà


Chợ Bắc Hà là nơi trao đổi hàng hóa địa phương với hàng hóa ngoài tỉnh, được chia ra các khu chợ nhỏ mang tính chất đặc trưng như: chợ thổ cẩm, chợ ẩm thực, chợ ngựa, chợ gia cầm, chợ thực phẩm, chợ chim, chợ rèn đúc… Mỗi khu chợ đều phong phú đa dạng và mang màu sắc dân tộc địa phương. Nhưng hiện nay hàng hóa được bày bán không chỉ là hàng hóa địa phương đơn thuần, mà còn có hàng hóa của nhiều nơi khác mà nhiều nhất vẫn là hàng hóa của Trung Quốc tràn sang. Nhưng điều làm nên vẻ hấp dẫn của Phiên chợ Bắc Hà không chỉ nằm ở đó, mỗi phiên chợ Bắc Hà còn là nơi giao lưu gặp gỡ giữa các dân tộc trong vùng. Sau mỗi tuần làm việc, đồng bào dân tộc lại xuống núi, họ mặc trên mình những bộ váy áo sặc sỡ đủ màu và xem đó như ngày hội, trai gái coi đó như một lần được gặp gỡ trao duyên. Người già vui vẻ đi thăm hỏi bạn bè, lớp trẻ có cơ hội để tiếp xúc và làm quen với bạn khác giới. Điểm đặc biệt là mọi người kết bạn qua tiếng Khèn, tiếng Sáo... Trong đó có chứa đựng tình cảm mà của họ muốn thổ lộ. Những sắc màu Văn hóa của phiên chợ Bắc Hà đã tạo nên sự hấp dẫn cũng như sức sống trường tồn của nó.

Bên cạnh chợ Bắc Hà thì khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam còn hấp dẫn du khách với nhiều phiên chợ khác mang đặc trưng văn hóa địa phương như: phiên chợ Lượn hay thấy ở vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn. Nó vốn là phiên hát giao duyên của người dân tộc Tày, Nùng, Thái, hầu như không buôn bán gì. Đi chợ chủ yếu là để gặp gỡ, trao duyên, trao tình. Đồng bào các dân tộc Hà Giang thì lại có một phiên chợ gắn liền với một câu chuyện cổ tích về tình yêu, đó là chợ tình Khâu Vai: Cô gái và chàng trai thuộc hai tộc khác nhau, do những lời nguyền của dòng tộc, họ không được bên nhau. Nhưng tình yêu đã cho họ dũng khí, họ đã đến nơi vùng núi cao này để thề nguyền trọn đời có nhau và cùng chết. Và ngày 23/3 âm lịch hàng năm đã trở thành Ngày Tình yêu của người H'Mông với phiên chợ hẹn hò duy nhất.


Chợ là nơi mua may bán rủi

Chợ Việt Nam, ngoài việc thoả mãn sở thích mua sắm còn là cách để tìm hiểu bản sắc văn hoá bản địa mỗi vùng, miền, chợ gắn liền với văn hóa tâm linh. Phiên chợ Âm Dương (chợ Âm Phủ) làng Ó, Võ Giàng, Bắc Ninh, chợ mỗi năm họp một lần vào đêm 4/1 đến rạng sáng 5/1 âm lịch. Theo huyền sử, nơi đây ngày xưa là chiến trường, có nhiều tử sĩ. Chợ họp để người trần có cơ hội để trò chuyện, cầu may, cầu phúc… Chợ họp vào ban đêm nhưng không ai được đốt đèn, hàng hoá chỉ có giấy tiền, vàng mã, trái cây, trầu cau, hương hoa… Tất cả bày dưới đất lót lá chuối khô. Không mặc cả, không nói to, không cả đếm tiền… Ngoài ra, nếu ai đi chợ cầu xin gì thì phải mang theo một con gà đen cúng lễ Thành Hoàng làng Ó. Trong lúc đợi mặt trời lên, những người đi chợ mời nhau ăn trầu, hát quan họ, uống nước…



Chợ Viềng vào phiên


Được nhiều người biết tới hơn phiên chọ ở làng Ó là chợ ở Gôi, Vụ Bản, Nam Định là phiên chợ cầu may nằm gần Phủ Giày, nơi thờ bà chúa Liễu Hạnh, một trong "tứ bất tử" thần linh Việt Nam. Chợ Viềng họp phiên duy nhất vào 8/1 âm lịch hàng năm. Chợ là nơi tập hợp các sản phẩm của những làng nghề truyền thống từ rèn, đúc, chạm, khắc, thêu, đan… đồ kim loại, đồ gốm sứ, đồ gỗ, đồ thờ cúng của khắp các vùng, miền trong Nam ngoài Bắc. Ngoài ra đây còn là nơi bán cây cảnh, các giống cây trái ngon của các vùng. Đặc biệt, phiên chợ này còn bán cả đồ cũ, những thứ tưởng như không còn dùng được. Ở chợ phiên này có tục người bán không hề nói thách và người mua cũng không hề mặc cả - một nét đẹp đáng yêu chỉ phiên chợ này mới có. Hình như sự bán mua ở đây mang nặng một ý thức tâm linh nào đó - rằng người ta chỉ cần bán hoặc mua được một vật gì đó dù rất nhỏ thì người bán kẻ mua đều gặp nhiều may mắn tốt lành, và cả đôi bên đều cùng vui vẻ hỉ hả ra về. Chính vì vậy hội chợ Viềng ngày xưa còn có tên gọi là chợ Cầu May.

Khách thập phương về hội chợ phần lớn là do nghe danh tiếng của chợ Viềng mà về, nhưng phần đông vẫn là những người có gốc gác hoặc quê quán ở tỉnh Nam đi làm ăn xa nay nhớ đất Tổ, đất quê tìm về. Đối với họ về với chợ là về với những nét văn hóa độc đáo của quê hương cũng như trở về với hồn thiêng của dân tộc.

Chợ mùa nước lên

Chợ Việt Nam - một nét đẹp văn hoá đặc sắc riêng biệt. Mỗi vùng, mỗi miền mang một nét đẹp đặc trưng. Nếu như ngoài Bắc với những phiên chợ miền núi mang đặc bản sắc dân tộc vùng cao thì tới miền Nam, nơi nổi tiếng với những phiên chợ Nổi, những phiên chợ mùa nước lên với phương tiện và trao đổi hàng hoá trên ghe thuyền.



Nhộn nhịp chợ nổi


Chợ nổi là một loại hình chợ thường xuất hiện tại vùng sông nước được coi là tuyến giao thông chính. Nơi cả người bán và người mua đều dùng ghe/thuyền làm phương tiện vận tải và di chuyển. Địa điểm có chợ nổi thường tại các khúc sông không rộng quá mà cũng không hẹp quá. Khúc sông phải tương đối rộng, không cạn quá mà cũng không sâu quá. Nếu sông sâu quá, lớn quá thì không thể neo đậu ghe, xuồng một cách dễ dàng và rất nguy hiểm.

Với 700km bờ biển, 28.000km kênh rạch (70% chiều dài đường sông của cả nước), từ bao đời nay, nói đến đồng bằng sông Cửu Long, không thể không nhắc đến chiếc ghe tam bản. Với những cư dân vùng sông nước, chiếc tam bản không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn như một ngôi nhà di động, cùng họ dãi dầu mưa nắng. Theo năm tháng, một cộng đồng ghe tam bản dần dần hình thành, tập trung sinh sống, mua bán, trao đổi hàng hoá tại giao điểm các dòng sông và... chợ nổi, trở thành nét đặc thù của miền Tây Nam bộ.



Sắc màu chợ nổi


Nói đến Chợ nổi người ta không thể không nhắc tới chợ Nổi Cài Bè và Chợ nổi Cần Thơ. Chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang) là một trong hai chợ nổi nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ (chợ nổi Phụng Hiệp - Cần Thơ và chợ nổi Cái Bè - Tiền Giang), có từ khoảng thế kỷ XVIII. Chợ nằm ở nơi giáp ranh giữa 3 tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Tiền Giang, nơi được hình thành bởi cù lao Tân Phong, xưa là Cồn Cù, thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ (hợp thành bởi 6 hòn đảo xinh xắn có tổng diện tích 2.430 ha).

Cũng như bao ngôi chợ Việt, hàng hoá chợ nổi rất đa dạng, từ thực phẩm tươi sống, đặc sản hoa quả địa phương... Khác chăng là mỗi quầy hàng có thể di chuyển mọi lúc, mọi nơi. Đặc biệt, khi tới chợ nổi ta sẽ bắt gặp hình thức tiếp thị hàng hoá khá độc đáo: ai bán loại gì thì cắm một cái sào trên mũi thuyền và treo sản phẩm mình muốn bán lên cái sào đó để mời gọi bạn hàng hay còn gọi là "bẹo hàng”. Do vậy, chợ không có tiếng rao hàng như các chợ trên bờ, mà có rao thì tiếng sóng, tiếng máy nổ của tàu cũng làm át đi. Đơn vị mua là "thiên", "giạ", ít cũng là "chục", hàng hoá trao qua đổi lại tung hứng trên các ghe thuyền với nhau. Chợ nổi thường họp cả ngày, nhưng đông đúc nhất là vào buổi sáng khi mà khí hậu còn khá mát mẻ. Đến với chợ nổi người ta không chỉ thấy bạt ngàn những sản vật của vùng sông nước miền Tây mà họ còn được chứng kiến cuộc sống sinh hoạt, văn hóa của người dân miền Tây: nổi tiếng là phóng khoáng và hiếu khách.

Theo dọc chiều dài của dải đất hình chữ S, đi tới đâu cũng thấy những điều thú vị, từ phiên chợ tình trên những vùng núi xa xôi, đến phiên chợ cầu may mỗi năm chỉ họp có một lần vào dịp đầu xuân, hay những phiên chợ trên sông nước của miền Châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long tất cả cộng hưởng, hòa điệu góp phần tạo nên bề dày văn hóa và lịch sử của dân tộc. Đây không chỉ là câu chuyện của Chợ Việt Nam, mà nó câu chuyện về Văn hóa và con người Việt.

Theo Quê Hương _

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

truongvietnam
Starting Member

5 Posts

Posted - 08/08/2009 :  20:36:34  Show Profile  Reply with Quote
Thế còn văn hóa và phong cách dân tộc kinh của chúng ta thì sao? Mình muốn tìm hiểu lại, mình tin rằng chúng ta sẽ lấy lại được cái nền của văn hóa Việt. Kí tên 57157
Go to Top of Page

Linh Phuong
Moderator

USA
125 Posts

Posted - 08/09/2009 :  06:32:10  Show Profile  Reply with Quote
quote:
Originally posted by truongvietnam

Thế còn văn hóa và phong cách dân tộc kinh của chúng ta thì sao? Mình muốn tìm hiểu lại, mình tin rằng chúng ta sẽ lấy lại được cái nền của văn hóa Việt. Kí tên 57157



Bạn TruongVietnam

Hình như bạn xuất thân từ trường "Chê" cho nên ban chỉ chê mà không có gì là xây dựng
Linh Phuong

Kính Chào
Linh Phượng
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06