Print Page | Close Window

Văn Hóa Hàng Hải

Printed from: Ca Dao Tục Ngữ
Topic URL: http://www.cadaotucngu.com/Phorum/topic.asp?TOPIC_ID=35
Printed on: 09/16/2014

Topic:


Topic author: admin
Subject: Văn Hóa Hàng Hải
Posted on: 01/25/2006 19:06:20
Message:


Hàng-Hải: Thành-phần Căn-bản của Văn-hoá Dân-tộc

(đangsửa chữa)

Vũ-Hữu-San

1 - Có những vấn-đề văn-hoá bị quên lãng
Có những vấn-đề văn-hoá của dân-tộc bị quên lãng. Ngay đến cả Sử-ký nước nhà mà nhiều người cũng không để ý tới. Vào năm 1944, học-giả Nhượng-Tống đã phàn-nàn như sau:
"Một điều chúng tôi lấy làm áy náy và phàn nàn nhất là sự mờ mịt của số đông anh chị em đối với lịch-sử nước nhà. Điều đó chắc các bạn cũng cùng cảm như chúng tôi. Mà điều đó chẳng phải bắt đầu tự đâu đời chúng ta.
... Còn Sử (nước) ta? Tôi có thể nói mà không sợ mang tội với các cụ rằng: Chính những cụ Tú, cụ Cử, phần đông cũng chẳng biết đầu-đuôi ra sao hết!"
Kể từ khi tìm hiểu các sinh-hoạt Hàng-hải của nhân-loại, chúng tôi lại thấy có một số vấn-đề rất lớn về văn-hoá mà xưa nay cũng ít khi được mọi người bàn-luận tới:
- Khả-năng hàng-hải vượt bực của người Việt thời cổ.
- Chủng-tộc Việt có gốc rễ ngay tại địa-phương (bản-địa.)
- Tính-chất "Nước" là thành-phần căn-bản của văn-hoá chúng ta.
- Nền "Văn-hoá Nước" này có thể là một nền văn-hoá nhân-bản nhất và cổ nhất của nhân-loại.
Theo kết-quả nghiên-cứu sơ-quát của một số học-giả Âu-Mỹ, những điểm kể trên đúng là tính-chất đặc-thù của dân-tộc Việt-Nam nhưng thường thường đã bị toàn-thể nhân-loại cũng như chính đồng-bào chúng ta quên lãng.
Khi bỏ ra ngoài những sinh-hoạt khác mà chỉ xét riêng khiá-cạnh hàng-hải, nền văn-hoá "nước" của Việt-Nam đáng được kể là tối-cổ. Sự khởi-nguyên của nó, với nhiều chứng-cớ, hiển-nhiên đã đi trước tất cả các nền văn-hoá "thạch đá", "đền đài đô-thị" hay các loại văn-minh nào khác trên địa-cầu.
Những "chuyện hệ-trọng" về gốc rễ văn-hoá Việt-Nam như vậy mà tại sao lại ít khi người Việt-Nam chúng ta được nghe nói tới?
Có thể một người thường-dân Việt-Nam được đến trường bậc phổ-thông, không có dịp được biết chuyện đi biển của tiền-nhân; nhưng tại sao mà cả những người hành-thủy, tốt-nghiệp trường hải-quân hay hàng-hải cũng có thể chưa hay... Nguyên-do chính có lẽ vì chúng ta không có sách để đọc chăng?
Chính chúng tôi lúc trước, dù đã qua một thời-gian hải-vụ mà đôi khi cũng cảm thấy ngượng ngập vì quá nhiều điều không biết về sinh-hoạt cổ hàng-hải của tiền-nhân. Nhưng cũng chính những lần có thể gọi là "xấu hổ" như vậy đã thúc đẩy chúng tôi hăng hái hơn trong công-trình nghiên-cứu. Cá-nhân chúng tôi cố tìm hiếu về văn-hoá cổ hàng-hải nước ta để hy-vọng gia-tăng những kiến-thức mới, mong cho mọi người được đọc và hiểu biết hơn chính chúng tôi lúc xưa.
 
2 - Văn-hoá Việt vẫn ẩn-tàng
Chúng ta cần một cái nhìn mới và chính-xác về nền văn-hoá căn-bản Việt-Nam.
Giáo-sư Đào-Văn-Dương đã từng viết rằng : "Khoảng 3,000 năm trước Tây-lịch, nước Việt đã là nơi rất thuận-tiện cho việc liên-lạc thương-mại giữa các nước trong vùng Biển Đông, do đó đã có sự giao-lưu kinh-tế và văn-hoá giữa nước Việt với các nước Đông-Nam-Á, hoặc những lớp sơn văn-hoá" nhợt nhạt của nền văn-hoá „n-Độ riêng biệt, nước Việt đã bị Trung-Hoa thống-trị trên 1000 năm... với mưu-đồ Hán-hoá dân Việt.
... Nếu ta muốn tìm cốt lõi của Văn-hoá Việt, Tư-tưởng Việt, ta phải tìm cách tháo gỡ các lớp sơn văn-hoá ngoại-lai đã bao-phủ lên văn-hoá Việt.
... Đi ngược dòng lịch-sử. ta thấy "lớp sơn văn-hoá Mỹ" đối với người Việt hải-ngoại sinh sống tại Hoa-Kỳ, và "lớp sơn Mác-Lê" đối với đồng-bào trong nước. Tháo gỡ được những lớp sơn đó, chúng ta thấy "lớp sơn Văn-hoá Pháp" đã ảnh-hưởng đến nếp sống của dân Việt (nhất là dân thành-thị) trong khoảng 80 năm Pháp-thuộc. Gỡ bỏ "lớp sơn văn-hoá Pháp", chúng ta đối-diện ngay với những "lớp sơn Khổng-giáo, Lão-giáo, Phật-giáo" đã điểm những mầu sắc đậm nhạt khác nhau trong suốt chiều dài của sử Việt. Tháo gỡ được tất cả "những lớp sơn ngoại-lai" đó, chúng ta mới tìm được "cốt lõi của Văn-hoá Việt", "tinh-hoa Tư-tưởng Việt vẫn phủ-phục ẩn-tàng trong dân-chúng ở những thời-kỳ đen tối của lịch-sử." Theo vị giáo-sư này, chúng ta có thể tìm thấy phần cốt lõi của văn-hoá Việt qua tục-ngữ ca-dao.
Ngoài ra, muốn biết gốc rễ văn-hoá, người ta cần tìm hiểu môi-trường sinh-họat từ những ngày đầu tiên của dân-tộc. Theo hai Ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh: Nói về dân-tộc Việt-Nam, chúng ta phải bắt đầu từ miền Bắc, nơi đây là chỗ khai-nguyên của quốc-gia và cũng là trung-tâm phát-triển của dân-tộc. Trên các vùng châu-thổ sông Hồng, sông Mã, sự sinh-hoạt từ xưa vẫn mang đặc-tính kiểu "bán thuỷ-sinh", nửa nước nửa cạn.
 
3 - Sông, Nước và buổi bình-minh loài người
Nói chung, những nền văn-minh lớn đầu tiên của loài người đều xuất-hiện tại châu-thổ các dòng sông lớn. Đó là các nền văn-minh:
- Ai-Cập, châu-thổ sông Nile.
- Lưỡng-Hà-Địa, châu-thổ hai sông Tigris và Euphrates.
- „n-Độ, châu-thổ sông Indus.
- Trung-Hoa, châu-thổ sông Hoàng-Hà
Bốn nền văn-minh cổ này được xếp chung lại là các nền "Văn-minh Sông" (River Civilizations). Đặc-điểm này thường được thể-hiện qua những câu nói ví von như: Văn-hoá Cận-Đông là văn-hoá Lưỡng-Hà, Ai-Cập là "tặng-phẩm của sông Nile", văn-hoá „n-Độ là văn-hoá „n-Hà v.v...
Theo Walter Wallbank thì tại những khu duyên-hà đó, nhờ đất cát phì-nhiêu và nước sông sẵn sàng nên mùa màng thường tốt đẹp. Thực-phẩm dồi-dào giúp cho nhân-số tăng-trưởng. Dân-cư sinh sống, tụ-tập thành các thị-tứ hay thành-phố. Nhu-cầu cung cấp nước cho ruộng vườn gia-tăng, người ta phải đào kinh, đắp đập. Việc điều-hành nhân-lực và thiết-lập kế-hoạch tạo thành các cộng-đồng và thế-lực chính-trị. Từ địa-phương, những tổ-chức điều-hành lớn dần thành chính quyền của quốc-gia và rồi, của đế-quốc.
Một số học-giả Âu-Mỹ lưu-ý chúng ta rằng các vùng đất được gọi là nôi văn-hoá đều nằm dọc theo duyên-hà và chạy dài ra duyên hải. Địa-bàn Trung-Nguyên có hơi khác. Trong nhiều ngàn năm người Tàu chỉ chiếm duyên-hà mà không lan ra duyên-hải.
 
4 - Tàu thuyền thay thế các nấm mồ đá khối
Khi khoa khảo-cổ thành-hình, người ta nô nức nhau đi tìm hiểu những công-trình kiến-trúc của loài người.
Những địa-điểm lôi kéo được sự lưu-tâm nhiều nhất như Kim-tự-tháp Ai-cập, Vạn-lý Trường-thành Trung-Hoa, Đế-thiên Đế-thích Cambodge, sau cùng tới Kim-tự-tháp Mỹ-Châu v.v... Tẩt cả đều là những công-trình nặng nề bằng đá khối xây cất chỉ để làm thoả-mãn người chủ. Nhiều triệu sinh-mạng đã bị hy-sinh cho ý-thích riêng một cá-nhân. Ngày nay, khi ánh-sáng văn-minh tiến-bộ rọi tới những vùng lịch-sử đen tối đó, người ta không thấy "đá khối" mang được một ích lợi thực-tiễn nào phục-vụ cho phúc-lợi con người.
Theo luật tiến-hoá, tẩt cả ảnh-hưởng của các "nấm mồ đá khối" mà người ta gọi là tượng-trưng cho văn-minh như vậy đều đã theo nhau mà lần lượt sụp đổ. Dân-cư quanh những tàn-tích ‘phi nhân-bản’ đó cho đến nay, sau nhiều ngàn năm sau vẫn chưa phục-hồi hay không bao giờ khá lên được.
Nhà Hàng-hải Thor Heyerdahl lý-luận rất chính-xác khi phát-biểu ý-tưởng mới mẻ rằng: Thuyền bè là một thứ xe cộ (hay phương-tiện truyền-bá văn-hoá) đầu-tiên. Nhờ có nó (mà) thế-giới thời đồ đá bắt đầu thu nhỏ lại.
Tàu thuyền thực sự mang lại ánh-sáng, giúp loài người vượt qua những giai-đoạn tối tăm nhất của lịch-sử.
 
5 - Văn-minh và Thủy-vận
Các nhà văn-minh-học đều đồng-ý rằng văn-minh loài người tiến-triển được là nhờ sự chuyển-vận. Hành-tinh chúng ta đang ở có tới gần ba phần tư bề mặt là biển cả. Một phần tư địa-cầu mà ta quen được gọi là đất "liền" nhưng cũng chẳng phải nguyên một khối mà lại bị các biển nội-địa, những ao hồ, đầm lầy, dòng sông, ngọn suối,... chia cắt ra thành nhiều mảnh.
Từ xưa, các phương-tiện đường thủy đã từng chiếm giữ những vài trò trọng-yếu trong sinh-hoạt của nhân-loại. Khi khảo-sát về văn-minh, các nhà nghiên-cứu không thể không bàn đến những hoạt-động của con người trên sông biển.
Trên những khúc quanh lớn của lịch-sử nhân-loại, người ta thấy sự hiện-diện thiết-yếu của các hoạt-động hàng-hải. Hai thế-giới: Cựu và Tân-thế-giới, năm đại-châu: Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc cùng mọi hải-đảo lẻ loi, xa vắng đã được loài người nối kết lại với nhau bằng đường hàng-hải. Chính là nhờ những phương-tiện và dụng-cụ như thuyền bè, cánh buồm, bánh lái, cây xiếm v.v... mà các chủng-tộc giao-tiếp được với nhau, sinh-hoạt văn-hoá nhờ đó thêm tiến-bộ.
Nếu không có thuyền bè, người ta không thể vượt biển. Ngay cả việc vượt qua những sông ngòi, hồ ao, bãi lầy lớn nhỏ người ta cũng không làm nổi. Nói một cách khác đi, Âu Á xem ra khó gặp gỡ nhau, nếu không nhờ những cánh buồm no gió. Và ... nếu không có bánh lái gắn vào đuôi tàu thuyền, Mỹ-Châu có thể vẫn còn là một lục-địa xa lạ đối với nhân-loại sinh sống tại Cựu lục- địa.
Cho đến ngày nay, dù nhân-loại đã phát-minh được những phương-tiện mới về hàng-không và không-gian, đường thủy vẫn còn là phương-tiện chuyển-vận chính-yếu. Tính về khối-lượng số hàng luân-chuyển trên toàn thế-giới, đường biển chiếm tới 90%. — các nước nằm giữa biển khơi như Anh, Nhật, Indonesia, Australia; hầu như toàn bộ giao-lưu quốc-tế trông cậy vào vận-tải đường biển.
William Norton, tác-giả các sách về nhân-chủng đã viết rằng: Trong những phương-tiện chuyển-vận mà con người đã từng sử-dụng, thủy-vận là phương-tiện chuyển-vận ít tốn kém nhất. Việc di-chuyển trên mặt nước không gặp nhiều cản-trở và trên sông, trên biển, người ta không phải trả tiền kiều-lộ.
Khi xem xét giá cả chuyên chở đường biển, Ông Đỗ-Thái-Bình cho biết: Giá thành một tấn kilômét của vận-tải biển chỉ bằng 60% giá thành của đường sắt và đường sông và chỉ bằng khoảng 2.5% giá thành của vận-tải hàng-không.
 
6 - Thủy-vận, mạch sống của dân ta
Tại nước ta, chuyển-vận đường thủy rõ ràng quan-trọng hơn bất cứ nơi đâu trên thế-giới. Trong thế-chiến II, các nhà quân-sự Mỹ và Pháp có lẽ đã nói đúng hay đi quá xa chăng (?!) khi cho biết rằng ở nước ta việc chuyên chở bằng thuyền bè có thể bao trùm tới 90 phần trăm nhu-cầu chuyển-vận. Vào thời xa xưa lúc đường xá giao-thông chưa có, sông rạch lại nhiều, sự di-chuyển của dân ta đã phải nhờ hoàn toàn vào những phương-tiện đường thủy.
Trong cổ-thời, Giao-Chỉ là một xứ sở giàu có. Một đoạn thông-luận không biết tác-giả là ai được chép lại trong "Việt-Sử Tiêu-Án" của Ngô-Thì-Sĩ (17726-1780) như sau: Nước ta là một nơi đô-hộ lớn ở phương Nam, ruộng cấy lúa tốt, đất trồng dâu tốt, núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc, người ở đâu đến cũng buôn bán làm giàu được cả. Cái tiếng phong-phú ấy đồn đi xa, nên Trung-Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm đất của nước mình..."
Sách Hoài-Nam-Tử (thế-kỷ thứ 2 TTL.) đã viết : Tần-Thủy-Hoàng ham lợi về sừng tê-giác, ngà voi, chim trả, ngọc trai và ngọc cơ của người Việt nên gửi quân xâm-lăng. Léonard Aurousseau nhắc lại các mối lợi lớn này trong bài "La première conquête chinoise des pays annamites (III- Siècle avant notre ère),".
Sự giàu sang của xứ ta không phải chỉ hoàn toàn do tài-nguyên thiên-nhiên mà có. Nguồn lợi lớn của Giao-Chỉ cũng còn do ngoại-thương mang lại. Hoạt-động hàng-hải của dân ta lúc xưa rất đáng kể. Trước Công-nguyên, người Việt đã viễn-dương đi nhiều nơi rất xa. Tổ-tiên người Bách-Việt để lại dấu vết thương buôn khắp chốn từ Tây-Bá-Lợi-Á sang đến Hồng-hải, từ Đại-Dương-Châu qua tận Mã-Đảo. Những đường tiền-nhân qua lại trên biển kể ra rất nhiều, chúng tôi xin lược-duyệt các tài-liệu này qua các bài viết khác nhau.
Trong những chuyến đi xa như vậy, đôi khi người Việt bị ngộ-nhận một cách nhầm lẫn là người Tàu. Ngày nay tuy dân Trung-Hoa đông-đảo, người ta thấy họ khắp mọi nơi trên mặt địa-cầu; nhưng lúc xưa người Tàu hoàn-toàn chỉ là một giống dân mà sinh-hoạt suốt đời bị gắn chặt với lục-địa.
Muốn giàu người ta cần phải buôn bán, nhưng Khổng-giáo Trung-Hoa không coi trọng nghề này. Thương là giai-cấp cuối cùng trong tứ dân của Trung-Hoa. Sĩ là đệ-tử của Khổng Mạnh đứng trên hết, sau là Nông, Công rồi mới tới Thương. Giới thương-gia thường bị chính-quyền ngờ vực và coi như thành-phần ăn bám xã-hội.
— nước ta, giới buôn bán có hoàn-cảnh thuận lợi hơn. Trước công-nguyên, hải-cảng Cattigara ở miền Bắc nước ta đã là nơi các thương-gia Âu-Châu và Trung-Đông mong mỏi được hải-hành đến buôn bán.
Thời tự-chủ, kinh-đô Hoa-Lư trở thành thương-cảng quan-trọng. Sau này đến bến Vân-Đồn. Vào đời nhà Trần (1225-1413), thuyền buôn vẫn tiếp-tục thông-thương với các nước. Vóc đoạn của các nước phương Tây; vải hoa, trân châu, cánh trả, kim-la của Chà-Và; gấm, chim ưng, cá sấu, da tê, ngà voi trầm-hương, bạch-đàn của Miên, Lào, không thiếu thứ gì, đều là những thứ quý-giá.
 
7 - Việt-Nam trong một vùng không-gian bị lịch-sử quên lãng
Việt-Nam chiếm vị-trí trung-tâm của Đông-Nam-Á. Nhưng phần tiền-sử trên cả vùng đất này cũng như chính Việt-Nam mới chỉ được nhân-loại biết đến rất mù mờ cho tới thời-gian gần đây mà thôi.
Trong một khoảng thời-gian dài tới 300 năm kể từ khi xâm-nhập vùng Á-Đông, những người Âu-Châu không lưu-tâm đến cổ-sử Đông-Nam-Á. Các người Anh, Hoà-Lan hay Pháp có thể biết nhiều về văn-minh „n-Độ và Trung-Hoa; nhưng đối với họ, Đông-Nam-Á lại chỉ là một khu-vực "terra incognita" bao-trùm trong màn bí-mật. Cho mãi đến khi khám-phá ra Angkor Wat ở Cambodia và Borobudur ở Indonesia, các học-giả Tây-phương mới bắt đầu để tâm nghiên-cứu văn-hoá, lịch-sử, trình-độ văn-minh của Đông-Nam-Á.
 
8 - Sự thiếu sót trong Sử-liệu Tây-phương
Trong thời cận-đại, trước những tiến-bộ khoa-học và quân-sự vượt bực, dân da trắng nắm giữ mọi vai trò lớn lao trong lịch-sử nhân-loại. Vào thế-kỷ 16 và 17, người Âu-châu khám-phá Mỹ-Châu, in sách thật nhiều, mở mang giáo-dục, phát-triển nhiều ngành khoa-học mới.
Sử-ký toàn-cầu cũng được họ viết ra nhiều nhất. Thông thường các sử-gia Tây-phương làm việc rất đúng phương-pháp, nhưng sử-liệu của họ hay bị thiếu sót rất nhiều về sinh-hoạt của các dân-tộc Á Phi.
Nhà văn kiêm Sử-gia H.G. Wells, tác-giả pho sử-ký "The Outline of History" gồm 2 cuốn, đã in lại nhiều lần và có số bán nhiều triệu ấn-bản mỗi lần xuất-bản, nhận xét rằng Sử do người Tây-phương viết ra, tuy gọi là Sử Thế-giới nhưng thứ Sử này thật xa lạ hay không có liên-quan gì đến sinh-hoạt của các dân-tộc sống ngoài vùng Tây-Âu, đặc-biệt là các Sử-gia này đã quên hẳn vùng Nam-Á.
Sử sách đề-cập đến Đông-Nam-Á xuất-hiện rất trễ. Người ta mới chỉ khởi-sự nghiên-cứu và viết về vùng này trong thời-gian gần đây. Sử-liệu hàng-hải Đông-Nam-Á do đó, còn khan-hiếm hơn nhiều.
 
9 - Phần đóng góp của người Pháp về Tiền-Sử Việt-Nam
Riêng về giới học-giả Pháp, chúng ta công-nhận sự đóng góp quan-trọng của họ trong những công-trình khảo-cổ sơ-khởi tại Đông-Dương. Tuy nhiên vì xuất-thân là những nhà Trung-Hoa-Học hay „n-Độ-Học, phần lớn người Pháp có sẵn cái tiên-kiến cho rằng Việt-Nam là chỗ nối dài của hai nền văn-hoá Trung-Hoa và „n-Độ. Học-giả Hoa-Kỳ Neil L. Jamieson nghĩ rằng người Pháp thời thuộc-địa đã mắc phải sai lầm khi cho rằng Văn-Lang chỉ là huyền-thoại không có thực.
Còn quá đáng hơn, nhà Khảo-cổ-học Bezacier cho rằng lịch-sử Việt-Nam chỉ mới khởi đầu vào thế-kỷ thứ 7 mà thôi.
Trường-hợp Madeleine Colani khám-phá ra "Nền Văn-minh Hoà-Bình" vào thập-niên 1920 thật là đặc-biệt. Cô Colani là một nhà thảo-mộc-học người Pháp muốn chuyển sang nghề sinh-vật hoá-thạch, rồi trở nên một nhà khảo-cổ-học danh-tiếng. Colani cùng một số nhà nghiên-cứu khác tìm ra nhiều dụng-cụ bằng đá trong vùng Hoà-Bình và đặc-biệt là những đồ gốm cổ tới 8,000 năm. Trước đó, giới khoa-học cho rằng Đông-Nam-Á biết làm đồ gốm rất muộn.
Sau này, nền văn-mnh Hoà-Bình tiếp-tục được khảo-sát. Nhà địa-lý-học Hoa-Kỳ Carl Sauer chứng-minh rằng Đông-Nam-Á chính là trung-tâm tối cổ của nông-nghiệp và rằng "luá gạo, heo và gà vịt đều phát xuất từ Đông-Nam-Á."
Giáo-sư Wilhelm G. Solheim II của trường đại-học Hawaii tin rằng dân-chúng nền văn-minh Hoà-Bình có thể đã biết trồng trọt 15,000 năm TTL, làm thuyền độc-mộc 5,000 năm TTL, thuyền có thân phụ (outrigger) 4,000 năm TTL. Những chuyến hải-hành từ Đông-Nam-Á đi khắp nơi như Đài-Loan, Nhật-Bản, Địa-Trung-Hải v.v...
 
10 - May mắn hãn-hữu của ngành hải-sử nước ta
Một may mắn lớn đã đến cho ngành hải-sử nước ta. Hầu hết những người Pháp đầu tiên đến Việt-Nam là thủy-thủ, hành nghề đi biển hay phục-vụ trong Hải-quân. Số lượng ngưới Pháp để-ý quan-sát và viết về các ghe thuyền Đông-Dương chiếm tỷ-lệ đáng kể. Lúc đầu, tài-liệu và hình vẽ ghe thuyền Việt-Nam xuất-hiện lẻ tẻ trong các loại sách kiểu hồi-ký. Sau này, một số sách khảo-cứu về sinh-hoạt văn-hoá nước của dân ta cũng được các cơ-quan tình-báo thuộc-địa, một số hội văn-hoá hay những cá-nhân ưa thích sưu-tầm, thu-thập lại và xuất-bản thành sách.
Trong khi nghiên-cứu việc kiến-trúc ghe thuyền thế-giới, Đô-Đốc Francois E. Paris thuộc Hải-quân Pháp là một trong những nhà nghiên-cứu đầu tiên bàn-luận ít câu về khía-cạnh văn-hoá của thuyền bè Việt-Nam. Tập sách của Ông mang nhan-đề là "Essai sur la construction navales des peuples extra-européens, do nhà sách Arthur Bertrand: Paris xuất bản khoảng 1841-1843. Gần 4 thập-niên sau đó, Đô-Đốc Paris lại cho ra đời một số sưu-tập nữa kèm hình vẽ, tựa-đề "Souvenirs de marine; collection de plans ou dessins de navires et de bateaux anciens ou modernes, existants ou disparus". Trong cuốn đầu tiên phát-hành năm 1882, Ông đặc-biệt dành riêng cho việc trình-bày các tài-liệu bàn về ghe thuyền Đông-Dương và Nhật-Bản. Vị Đô-Đốc học-giả này tìm ra nhiều sự tương-đồng về hàng-hải chứng-tỏ đã có sự giao-tiếp cổ thời giữa vùng quê-hương chúng ta với đất Mỹ-Châu.
Nửa thế-kỷ nữa trôi qua, chúng ta thấy xuất-hiện thêm một số sách Pháp-ngữ nghiên-cứu rất công-phu về thuyền bè Việt-Nam xuất-hiện. Đáng kể nhất là những công-trình sau đây:
-Bateaux en Indochine, Jean Poujade, Testelin, Saigon, 1940.
-Esquisse d'une Ethnographie Navale des peuples annamites, Pierre Paris, Le Bulletin des Amis du Vieux Hué no. 14, Octobre-Décembre 1942; in lại ở Rotterdam, Holland 1955.
-Voiliers d’Indochine, J. B. Piétri, S.I.L.I., Saigon, 1949.
-Mới đây nhất là cuốn "Bois et Bateaux du Việtnam", Francoise Aubaile- Sallenave, Paris, 1987.
Xứng-danh là một nhà Khảo-cổ Hàng-hải, Pierre Paris còn cung-cấp thêm tập tài-liệu nhan-đề "L'Amérique pré-colombienne et l'Asie méridionale". Qua 60 trang báo, Ông Pierre Paris đã mạnh mẽ phát-biểu nhiều điều hiển-nhiên về ảnh-hưởng văn-hoá Đông-Dương hiện-diện tại Mỹ-Châu, đặc-biệt qua những phương-tiện hàng-hải.
Tiếp theo đó, những học-giả Âu-Mỹ khác cũng bị hấp-dẫn và say mê nghiên-cứu đủ mọi loại thuyền bè mà họ nhìn thấy khắp nơi tại nước ta.
Tóm lại, các công-trình của người Pháp nghiên-cứu ghe thuyền nước ta trong các thế-kỷ vừa qua thật sự quý báu biết bao!
 
11 - Hải-Sử không bao giờ có tại Trung-Hoa
Người Trung-Hoa ngay từ nguyên thủy thường sinh-hoạt cô-lập một mình trong lục-địa. Fitzgerald viết rằng: "Có rất ít chứng-cớ về chuyện người Trung-Hoa đã từng giao-tiếp hay biết đến sự hiện-diện của các dân-tộc khác ở xa cho đến thế-kỷ thứ 2 trước Tây-Lịch.
Sử-gia C. P. Fitzgerald cùng khá nhiều Sử-gia Âu-Mỹ khác, trong khi nghiên-cứu về sử-ký Trung-Hoa, đã than thở qua nhiều câu tương-tự như: Thật khó mà phân-biệt những hư thực trong sử sách thời sơ-kỳ của Tàu với các loại "sử-liệu" thật sơ sài và hoàn-toàn do trí tưởng-tượng nặn ra. Sử Trung-Hoa gồm toàn là (tổng-hợp) những truyện truyền-kỳ và huyền-thoại. Ngay các sách Sử-ký có đề cả tên tác-giả cũng đáng nghi ngờ.
Cho đến hồi gần đây, hoạt-động Hàng-Hải, kể cả ngành viễn-duyên thường không được coi trọng và không được sử sách Trung-hoa nói tới. Sử-ký Trung-Hoa không những có nhiều điểm đáng nghi ngờ mà còn có những khoảng trống lớn về hải-sử. Người Trung-Hoa, vì thế cũng không cung-cấp được tài-liệu nào tương-đối gọi là quý báu về sinh-hoạt hàng-hải của dân ta trong thời cổ.
Rủi hơn nữa, nước ta bị Trung-Hoa đô-hộ cả ngàn năm. Vì sách-lược xâm-lăng, người Tàu đã cố-ý huỷ-hoại đi nhiều chứng-tích văn-hoá xưa của dân-tộc ta, kể cả những tài-liệu quý-giá về hàng-hải cùng những sinh-hoạt thủy-sinh khác.
 
12 - Ảnh-hưởng xấu của tư-tưởng cực-đoan Trung-quốc
Người Trung-Hoa vốn tin rằng nước họ là Trung-Nguyên, dân Hán là trung-tâm văn-hoá đã khai-hoá nhân-loại. Văn-hào Lỗ-Tấn từng đả-kích tư-tưởng của đồng-bào nước ông như "cực-đoan, ca-tụng quá-khứ đến độ tự lừa dối mình."
Dân-tộc Việt Nam đã bị các sử-gia Trung-Hoa trình-bày rất sai-lạc như để hiểu rằng, dân Việt chỉ là dân nô-lệ Trung-Hoa, được hưởng ánh-sáng văn-minh Trung-Hoa, được người Hán dạy cho đủ thứ nhất là được hấp-thụ Hán-học và Nho-giáo.
Trong khi theo đòi nghiên-bút, nhiều nho-sĩ Việt-Nam đã vô-tình hấp-thụ tât cả những ảnh-hưởng tai-hại từ Hán-học. Có thời-kỳ, cách học-tập của mình đã làm cho người mình không biết được Sử xứ mình. Học giả Trần-Trọng-Kim chắc rất buồn khi Ông than: "Bất kỳ lớn nhỏ, hễ ai cắp sách đi học thì chỉ học sử Tàu, chứ không học sử nước nhà . Rồi thơ-phú văn-minh gì cũng lấy điển-tích ở sử Tàu, chứ chuyện nước mình thì nhất-thiết không nói đến. Người mình có ý lấy chuyện nước nhà làm nhỏ mọn không cần phải biết làm gì."
Khi chúng ta nói đến ảnh-hưởng Tàu cũng là nói đến Nho-học. Triết-gia Kim-Định viết rằng: Thông thường thì Nho-giáo được coi như là sáng-khởi do Khổng-Tử. Với người Tàu thì Nho với Khổng đồng-nghĩa, điều đó còn được tăng-cường hơn nữa khi truyền ra nước ngoài. Nói với người Âu Mỹ về Nho thì phải dùng chữ Confucianism phiên-âm từ chữ Khổng-Phu-Tử.
Một số nhỏ người Việt-Nam có thể ca-tụng Nho-giáo như "khuôn vàng thước ngọc" cho cách sử-thế, Khổng-Tử như vị "Vạn-thế Sư-biểu", nhờ có Khổng-giáo mà quốc-gia Việt-Nam tồn-tại. Có vị còn muốn dựng lại các Khổng-Miếu hay nhận Nho-giáo là văn-hoá Việt, trong khi ngay ở Trung-Hoa là quê-hương Khổng-Tử, người Tàu đã phải quên Khổng để mong quốc-gia tiến-bộ hơn.
 
13 - Xin hãy để cho Khổng-Tử được yên nghỉ bên Tàu
Một số nhỏ người Việt-Nam trí-thức đôi khi có những cái nhìn chủ-quan về ảnh-hưởng Khổng-Mạnh. Thật ra đối với đại đa-số dân Việt chúng ta, không những họ đã không chịu thuấn-nhuần triết-lý Khổng-Mạnh mà vì bản-năng sinh-tồn không muốn bị mất đi nguồn gốc Tổ-tiên, người dân quê còn liên-tục chống đối lại một cách thực-sự mãnh-liệt.
Các học-giả ngoại-quốc nhờ đứng ở ngoài nhìn vào nên có những nhận-xét khách-quan hơn. Charles F. Keyes cho rằng chính-quyền lúc xưa sở-dĩ thất-bại trong việc áp đặt trật-tự Nho-giáo vì cả cái "thế-giới" mà trong đó người Việt sinh-hoạt đã phát-triển đến một nền trật-tự xã-hội (ổn-định) khác-biệt hẳn (Khổng-giáo) ngay từ thời nguyên-thủy.
Steven J. Hood cho rằng Nước Trung hoa hay "Đế-quốc Đại-Hán" là quốc-gia theo Khổng-giáo và Nước Việt-Nam độc-lập đã phản-kháng lại các phương-cách Khổng-hoá và Hán-hoá thật mãnh-liệt.
Keyes cũng đồng-ý với Alexander Woodside trong một nhận-xét đúng đắn khác cho rằng theo với đường Nam-tiến, người dân Miền Nam tiếp-nhận thêm ảnh-hưởng Khmer và ảnh-hưởng Phật-giáo; trong khi đó ảnh-hưởng Khổng-giáo giảm bớt đi so với những người dân Trung, dân Bắc.
Như vậy, khi muốn tìm hiểu rõ ràng gốc rễ văn-hoá Việt xưa, một số sách vở Nho-gia cần tạm bỏ lại sang một bên.
 
14 - Văn-minh Nước của Đông-Nam-Á, nền Văn-minh rất cổ xưa
Người Việt-Nam cùng với một số dân khác của Đông-Nam-Á đã sinh sống quanh khu-vực Biển Đông từ hàng chục ngàn năm trước đây. Ngay từ khi xuất-hiện, họ sinh-hoạt cạnh bờ nước, đương-nhiên rất giỏi đi biển. Nền văn-minh hàng-hải của dân ta phát-sinh từ nhu-cầu chuyển-vận trong một vùng đất đai luôn luôn bị ngập nước. Tiến-trình của ngành hàng-hải khởi-thủy từ buổi bình-minh của nhân-loại, đã liên-tục phát-triển suốt khoảng thời-gian hàng 6, 7 chục ngàn năm qua.
Sắc thái "nước" lại chỉ xuất-hiện ở Đông-Nam-Á mà không có ở bất cứ vùng nào khác trên địa-cầu. "Văn-minh Nước" này có tính-cách bản-địa bắt rễ tại chỗ, không nhận ảnh-hưởng từ bất cứ một nguồn hay gốc nào khác ở ngoài. Tính-chất nước của dân Việt ta khác-biệt hẳn với các nền văn-minh khác, có lẽ cổ-kính hơn cả bất cứ một nền văn-minh cổ-kính nào khác của nhân-loại. Điều chắc chắn nhất: "Văn-hoá Nước" Việt-Nam đi trước nền "Văn-hoá Lục-địa" của Trung-Hoa và cả „n-Độ nhiều thiên-kỷ.
Tầm ảnh-hưởng của hàng-hải đối với đời sống như đã trình-bày, thật là quan-trọng, nếu không muốn nói là "tối yếu" cho sự tiến-bộ của nhân-loại. Lịch-sử chứng-minh rằng Âu-Châu sở dĩ vượt qua được thời-đại đen tối (dark age) nhờ con người tái phát-triển hàng-hải, bành-trướng giao-thương đường biển.
Nhưng có lẽ vì vô-tình, loài người có thể đã không biết hay đã quên rằng dân Việt thời cổ là tác-giả của các phát-minh ghe thuyền cùng tất cả những trang-cụ quan-yếu dùng đi biển như buồm, lái, xiếm... Suy-luận ra, tiền-nhân chúng ta đã đóng góp những công-trình to lớn trong việc phát-triển nền văn-minh nhân-loại hiện nay. Tuy thế, mấy ai trong chúng ta được nghe nhắc nhở tới!
Ai ai cũng biết rằng trên trái đất này, nếu không có nước thì không có đời sống. Riêng với loài người, nếu không có chuyển-vận thì không có văn-minh. Trải qua bao nhiêu ngàn vạn năm cho đến khi có xe lửa, sự chuyển-vận đường thuỷ nắm giữ vai trò quan-yếu nhất.
Chúng tôi mong mỏi một ngày nào đó, sách vở Việt-Nam và thế-giới bắt đầu ghi chép lại những bước đi lớn của hàng-hải Việt thời cổ, và hơn thế nữa nhận ra được công-trạng đích-thực của tiền-nhân chúng ta đóng góp vào đà tiến-bộ của nhân-loại.
 
15 - Khoảng trống văn-học: cổ hàng-hải
Cho dù cố công lục lọi tất cả các thư-viện trong nước cũng như ở ngoài nước, người ta khó có thể tìm thấy một cuốn sách hay một tập tài-liệu nào bàn-luận đầy đủ đến những đề-tài này,
Có rất nhiều cách giải-thích hiện-tượng khan-hiếm sách vở về cổ hàng-hải Việt-Nam. Sau đây là một số lý-do được chúng tôi chú-ý nhiều nhất:
- Thứ nhất, nước Việt-Nam nằm trong vùng nhiệt-đới. Từ lâu một số đông khoa-học-gia quốc-tế hay quốc-nội đã "yên-chí" mặc-nhiên cho rằng vùng nhiệt đới không thể là nơi có thể phát-sinh những nguồn gốc văn-minh nhân-loại.
Học-giả Thái-Lan Sumet Jumsai thấy rằng thiên-kiến này sai-lầm. Từ 10,000 năm trước đây, tại khu-vực vòng đai giới-hạn bởi hai vĩ-tuyến; 20 độ Bắc và 20 độ Nam, con người đã khởi sự nhiều tiến-bộ đáng kể. Học-giả này đặc-biệt đã hết lời ca-tụng nền văn-minh nước của vùng Tây-bộ Thái-Bình-Dương, tức Đông-Nam-Á.
- Thứ hai, ở xứ ta các sách khảo-cổ rất khan-hiếm, nhất là cổ-sử và đặc-biệt thật khó tìm các tài-liệu về cổ hàng-hải. Những nhà nghiên-cứu hàng-hải, sau khi bỏ nhiều công-lao tìm kiếm mà không thấy tài-liệu, đành bỏ cuộc.
Ông Bình-Nguyên-Lộc cũng đã từng lưu-tâm đến một trong những lý-do khan-hiếm tài-liệu cổ-sử ở nước ta khi viết rằng: "...Các sử-gia Pháp Việt lại dùng sử-liệu của một nước văn-minh trước ta là sử Tàu ... Nhưng sử Tàu lại mù mờ... Phương chi ta chỉ đọc tới Sử Ký của Tư Mã Thiên rồi thôi mà tổ-tiên ta thì lâu đời hơn Tư Mã Thiên đến ba ngàn năm, thì làm thế nào mà biết được sự thật."
- Thứ ba, về khía-cạnh hàng-hải, sự khiếm-khuyết tài-liệu còn trầm trọng hơn. Ảnh-hưởng của nền văn-hoá "lục-địa" của Trung-Hoa sau hàng ngàn năm Bắc-thuộc đã chôn vùi nhiều thành-tích hàng-hải quá-khứ và giết chết hầu hết những phát-kiến mới mẻ của sinh-hoạt này ngay từ trong trứng nước...
Các sử-gia Trung-Hoa thường sinh-sống suốt đời trong nội-địa nên thiếu thốn hẳn các kiến-thức về hàng-hải. Sách Trung-Hoa tuy thiên-kinh vạn-quyển, nhưng không thấy có mấy đoạn ghi chép về tàu thuyền hay sông nước. Ngay cả Khổng-Tử là vị bác-học uyên-bác số một của Trung-Hoa thời cổ, người đã san-định lại các Kinh Thi, Thư, Lễ, Dịch cùng biên-soạn kinh Xuân-Thu, cũng không một lần bàn đến hàng-hải. Joseph Needham đã đề-cập đến sự kiện này trong Science and Civilization in China, Vol. 4, Part III: Civil Engineering and Nautics, trang 396.
 
16 - Sinh-Hoạt xưa không có trong sách vởGiới trí-thức Việt-Nam thời xưa chịu ảnh-hưởng Hán-học rất đậm. Vì sự thăng-tiến qua con đường khoa-hoạn, hầu hết các nhà nho đã tiếp-tục cái học từ-chương khoa-cử. Rất ít người thoát ra khỏi khuôn-sáo của kinh-điển Trung-Hoa để tìm-tòi, suy-luận và phát-huy nền văn-hoá đặc-thù dân-tộc.
Nam-Thiên Nguyễn Đức Sách rất có lý trong khi viết rằng:
"Lịch sử minh xác rằng đại đa số dân Việt có một nếp sống riêng, khác biệt với nhiều điều thường thấy trong sách vở. Sở dĩ có tình trạng này, vì xã hội Việt thời trước gồm hai hạng người : hạng biết chữ và hạng không biết chữ.
Hạng biết chữ là những người đã học chữ nho, đọc nhiều sách của Trung Hoa, và theo Khổng học. Hạng không biết chữ là hạng không biết đọc viết, không biết sách vở, mà chỉ biết sống theo truyền thống của Tổ Tiên.
Với sự phức tạp của chữ nho, hạng không biết chữ chiếm hơn 95% dân số.
Tuy nhiên, dầu hơn 95% dân chúng sống theo những phong tục và niềm tin riêng, họ vẫn không được biết đến bằng hạng 5% biết đọc biết viết, và biết ghi chép thành sách vở.
Do đó, nếu chỉ căn cứ vào sách vở để tìm hiểu, chúng ta chỉ biết được nếp sống của 5% dân Việt, và sẽ có nhiều nhận định sai lầm về văn hoá Việt."
 
17 - Biết tìm đâu Trường-thiên Anh-hùng-ca Hàng-hải?
Người Việt thời cổ cho dù không sống cả đời trên ghe thuyền hay sông biển, thì cũng suốt đời sinh-hoạt cạnh bờ nước. Tuy vậy, rất tiếc rằng nền văn-học nước nhà có nhiều khoảng trống vắng, và sinh-hoạt hàng-hải thực-sự là một phần quan-trọng đã bị chúng ta bỏ rơi mất đâu đó nơi cõi chân-không?!.
Những chuyến đi biển hàng ngàn vạn hải-lý của tiền-nhân cũng không để lại nhiều dấu vết trong truyền-thuyết, huyền-thoại hay trong cổ-tích Việt-Nam. Những trường-thiên anh-hùng-ca của dân Việt trên khắp mặt đại-dương thật-sự muôn ngàn lần oai-hùng hơn những chuyến đi của Ulysses trong Odysseus (anh-hùng-ca Hy-lạp của Homer) mà hải-trình chỉ quanh-quẩn vài nơi vùng Điạ-trung-Hải (hay Hắc-hải?) mà thôi.
Các sinh-hoạt của tiền-nhân chúng ta đã gắn chặt với Biển Đông qua nhiều ngàn năm. Vì thế, chúng tôi luôn luôn tin-tưởng rằng khi nghiên-cứu những hoạt-động thời cổ của người Việt trên sông hồ biển cả, người ta có thể khám-phá ra được nhiều yếu-tố căn-bản liên-hệ đến gốc rễ của dân-tộc. Tổ-tiên Việt-tộc là một trong những giống người đầu tiên đã sinh-tồn được trong môi-trường nước, đã thành-công trong việc phát-triển các sinh-hoạt nửa cạn nửa nước. "Nền văn-hoá Nước" chính là nền văn-hoá nguyên-thủy của ta, tương-đối được miễn-nhiễm, ít bị các lớp sơn văn-hoá ngoại-bang phủ lấp.
 
18 - Hàng-hải và rễ văn-hoá bản-địa của dân-tộc
Cho đến ngày nay vấn-đề nguồn gốc dân-tộcViệt-Nam vẫn chưa có giả-thuyết nào được coi là vững chắc. Nhân cơ-hội bàn đến hàng-hải thời cổ, chúng tôi xin nói thêm vài câu thanh-đạm về nguồn-gốc "bản-địa" của dân-tộc, gọi là một chút đóng góp nhỏ nhoi cho sự tầm-khảo thật quan-trọng và vĩ-đại này.
Nhân bàn về cổ hàng-hải, chúng tôi xin lạm-bàn thêm chút ít về gốc rễ của người Việt-Nam liên hệ đến nước. Tuy vậy, phần trình-bày này có tính-cách phụ-thuộc, chỉ nói ngắn gọn về cái "Rễ người Việt" phát-sinh tại chỗ. Sở dĩ như vậy cũng có lý-do: chúng tôi có ý tránh né các danh-từ "lớn" có tính-cách quá xác-quyết như Nguồn-gốc, như Dân-tộc, như Việt-Nam". Lại vì các lý-do khác liên-hệ đến luận-lý cũng như yếu-tố thời-gian, chúng tôi xin phép tạm dùng những chữ rễ, chữ người, chữ Việt cho có được sự "nới lỏng" khi viết.
Chúng tôi xin nói cho rõ ràng là hầu hết những kiến-thức ở đây được chiếu qua "lăng-kính cổ hàng-hải". Vì dựa trên quan-điểm hàng-hải này, chúng tôi đã có ý vượt qua giới-hạn bốn, năm ngàn năm văn-hiến. Chúng ta hãy cùng nhau đi xa hơn về quá-khứ, tìm gốc-gác người Việt ít nhất phải kể từ thời Băng-Đá, tức mười mấy ngàn năm trước Tây-lịch. Cái rễ cũng có thể đã già hơn nữa, nó khởi-nguyên từ khi những người Đông-Nam-Á phát-triển khả- năng hải-hành, vượt được biển qua lục-địa Mỹ-Châu, 60 ngàn năm trước đây. Khi đó dân ta tuy đã lập thành các bộ-lạc, có kinh-nghiệm hành-thủy nhưng chưa lập-quốc và thế-giới cũng chưa có nước nào ra đời. Danh-từ dân-tộc hay người nước nào, quốc-gia hay đất nước nào khó mà xác-định cho được dứt khoát.
 
19 - Những Thận-trọng cần-thiết
Danh-tự "Việt" là tên để gọi dân-tộc và quốc-gia chúng ta, nhưng cũng có những điều giới-hạn cần được cẩn-trọng khi phát-biểu tư-tưởng về nguồn gốc. Chẳng hạn như không vì danh-hiệu "Việt" này mà vội vã cho rằng chúng ta là con cháu dân nước Việt thời Chiến-quốc. Hai giống dân, Việt của Câu-Tiễn và Việt của Hùng-Vương là các chi-tộc khác nhau thuộc nhóm "Bách-Việt".
Sử-gia Phạm-văn-Sơn đã từng đưa một kết-luận (xac quyet??) rằng: Việt-ngữ và Việt-chủng là một chủng-tộc và một ngôn-ngữ riêng-biệt. Chúng tôi đề-cao sự thận-trọng khi chúng ta lập thuyết, không nên vội vàng gán ghép nguồn gốc dân-tộc Việt-Nam chúng ta đi ra từ chủng này, chủng nọ.
Sử-gia Trần-Trọng-Kim lưu-ý chúng ta những điểm tế-nhị khác như tránh dùng từ "An-Nam". Ông viết: Cũng như tên "An-Nam" là tiếng người Tàu đời nhà Đường (618-907) dùng gọi dân ta. Hai chữ "An-Nam" (này) có ngụ-ý phải thần-phục nước Tàu.
Riêng quốc-hiệu Việt-Nam mà chúng ta đang dùng ngày hôm nay là một danh-từ rất mới. Tên "Việt-Nam" chỉ được triều-đình Mãn-Thanh ban cho vào năm 1802. Đây lại thêm một điểm tế-nhị nữa và trước sau gì cũng có tranh-luận trong tương-lai.
Người viết chỉ xin bàn đến những sinh-hoạt "nước" của người Việt cổ trong những khung cảnh có thể nói là tổng-quát như vậy mà thôi. Phần tranh-luận "Nguồn gốc Dân-tộc Việt-Nam" ngày nay có xác-thực đúng thật là con cháu chính-thống (hay bà con) của giống dân hàng-hải siêu-việt như vậy hay không sẽ vẫn còn đòi hỏi thêm nhiều tâm-trí, thời-gian, tiền bạc...
Các công-trình liên-hệ đến việc dẫn nước xuất-hiện ngay từ thuở bình-minh của nhân-loại. William Norton cho rằng tại Cận-Đông nơi thường được gọi là "cái Nôi Văn-minh", tổ-chức điều-hành việc phân-phối nước cho dân-chúng vào thời xa xưa cách nay 5,000 năm đã phức-tạp.
Nhiều ngàn năm trước, khi khởi-sự canh-nông, con người phải lo liệu cách dẫn nước vào vườn ruộng. Một số nhà khảo-cổ-học lý-luận rằng công-tác này rất hệ-trọng cho sự sinh-tồn của cộng-đồng. Nhu-cầu "Nước" đòi hỏi một tổ-chức mạnh mẽ để điều-hành và hình-thức quốc-gia ra đời.
Thời lập-quốc, dân ta đã khởi sự với các sinh-hoạt với nước. Người Việt-Nam tiếp-tục dùng chữ "Nước" để chỉ quốc-gia cho đến ngày nay.
Tổ-tiên ta nổi danh tài giỏi về việc dẫn nước để canh-tác. Theo ông Bình-Nguyên-Lộc giống Lạc-Việt đứng đầu tất cả các chi-tộc Bách-Việt trong hoạt-động này. Nhờ chiếm được địa-bàn có nhiều sông ngòi nhứt ở Á-Đông, chính họ phát-minh ra kỹ-thuật dẫn thủy xuất điền và nhập-điền cho toàn cõi Á Đông gió mùa (Asie des moussons). Một Học-giả người Pháp, Ông Henry Maspéro, nói rằng cổ-sử Trung-Hoa nhìn nhận rằng người Tàu đã phải học với họ.
Joseph Buttinger cho rằng những công-trình thủy-lợi ở nước ta đã khởi sự trước cả thời-kỳ người Việt thành-lập nước Văn-Lang.
Jean Chesneaux ví người Việt như những "người Hoà-Lan tại Viễn-Đông, (Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne, Paris, 1955). Hiển-nhiên về công-trình thực-hiện thì có sự tương-tự, nhưng nếu nói về thời-gian thì dân ta đã tiến trước người Hoà-Lan nhiều ngàn năm. Helen B. Lamb đồng-ý với Jean Chesneaux, cho rằng công-việc đắp đê điều, khai kinh rạch đòi hỏi một chính-quyền mạnh mẽ ngay từ thời xa xưa.
D. R. SarDesai tìm ra hai yếu-tố tạo-dựng nên xã-hội Việt-Nam là (1) chống chọi với thiên-nhiên và (2) đối đầu với cường-địch phương Bắc. Trước thời công-nguyên, hệ-thống gồm những đê điều chống lũ lụt và các kinh đào dẫn nước vào ruộng vùng châu-thổ Sông Hồng đã thật rắc rối. Hệ-thống này phải do một thứ chính-quyền trung-ương điều-hành. Những quá-trình tranh-đấu này đã tạo-dựng nên dân-tộc Việt-Nam, một giống người cương-quyết, kiên-cường và cứng cỏi vào bậc nhất thế-giới.
Trước khi trở thành những đệ-tử Khổng-Mạnh, Phật-tử thuần-thành, Công-giáo chân-chính...; người Việt chúng ta đã là những người Việt-Nam có văn-hoá, tín-ngưỡng riêng-biệt của chúng ta. Phần bài viết "Văn-hoá nước ảnh-hưởng đến Tôn-giáo và Triết-lý dân-tộc" khá dài, sẽ xin được trình-bày trong các dịp sắp tới.
 
21 - Ảnh-hưởng Hàng-hải, Hồn của "Nước" và tinh-thần quốc-gia
Văn-Lang là danh-hiệu nước ta thời-đại Hùng-Vương. Đồ Đồng Đông-Sơn được sản-xuất vào thiên-kỷ thứ nhất TTL. tiêu-biểu cho nền văn-hoá của dân-tộc ta thời-kỳ mở nước và dựng nước.
Khi khảo-sát văn-hoá thời Đông-Sơn, nhiều học-giả, gồm cả Đông-phương lẫn Tây-phương như Chikamouri, Bezacier, Manuel, và nhất là Keith Weller Taylor; đã đồng-ý rằng: "Các hình vẽ và trang-trí trên trống đồng Đông-Sơn luôn luôn tạo nên ý-tưởng về những biểu-tượng của nghệ-thuật hàng-hải, đồng-thời minh-chứng một cách không thể lầm lẫn về tầm ảnh-hưởng của một thế-lực dựa trên căn-bản của biển cả."
C. P. Fitzgerald từng ca-tụng dân Việt hết lời trong cuốn sử-ký bàn về các âm-mưu bành-trướng của Trung-Hoa trên đường Nam-xâm. Theo sử-gia này, người Việt chuyên nghề hàng-hải, là giống dân chiến-đấu can-đảm nhất, đã liên-tục chống lại những đoàn quân đế-quốc xâm-lược hung-hãn nhất. Fitzgerald giải-thích rằng tinh-thần bất- khuất của dân Việt sở dĩ có được là nhờ sự trui rèn qua nhiều năm tháng rất dài khi phụ-vụ hải-nghiệp. Giống dân này xuất-hiện rất lâu trước thời công-nguyên, ngay từ những trang đầu của sử-ký, đã từng dùng tàu thuyền vượt biển đi xa, thường-xuyên đối đầu với phong-ba bão táp ngoài đại-dương.
Khi hiểu như vậy, ta thấy một thứ tinh-thần tập-đoàn của thủy-thủ đã tạo thành gốc rễ cho sự đoàn-kết quốc-gia suốt bốn ngàn năm lịch-sử.
Stain Steiner, ngoài việc diễn-đạt lại ý-tưởng của Fitzgerald trong sách "Fusang, Chinese Who Build America", còn khéo léo ví von rằng người Việt chiến-đấu diệt ngoại-xâm bằng vào những xung-lực vũ-bão mà họ đã từng dùng chống với giông-tố ngoài biển khơi.
Như nhà hùng-biện mạnh-bạo nhất, Keith Weller Taylor tuyên-bố là hồn Việt-nam đi từ hồn của nước (aquatic spirit). Ông khẳng định rằng cái hồn "nước" là năng-lực chính-trị và là động-cơ đưa đến sự tự-chủ (lập nên các ngành vua Việt chính-thống). Quan-niệm hồn Nước này đã dự vào việc tạo-dựng thành tập-thể dân-tộc Việt-Nam trong thời tiền-sử...
 
22 - Lãnh-thổ ôm dài theo bờ biển
Trừ các quốc-gia hải-đảo thường có bờ biển dài, không có nước nào nằm trên lục-địa mà hình-thể đất nước lại dài mà chiều ngang lại hẹp như Việt-Nam.
Một nửa biên-cương Việt-nam là bờ biển, hình chữ S như một con rắn (rồng) quẫy trong Biển Đông. Đa-số dân-chúng sống dọc theo bờ biển nên các nhà Địa-Lý đặt cho nước Việt-Nam là một nước "bán thủy-sinh" nghĩa là đời sống của dân chài cũng quan-trọng như đời sống của nông-dân.
Sinh-hoạt hàng-hải Việt-Nam đã được ghi-nhận rõ ràng nhất trên các di-vật Đông Sơn kể từ 7 thế-kỷ trước Tây-Lịch. Theo sách "Trống Đông-Sơn".: "Không-gian của xã-hội Văn-Lang - Âu-Lạc là không-gian của Văn-Hoá Đông-Sơn, cũng là không-gian tìm được nhiều trống Đông-Sơn nhất và tồn-tại nhiều trống cổ nhất. Đó là vùng Bắc Việt-Nam và khu-vực Nam Hoa-Nam."
Thời-gian của Đông-Sơn là thời-đại Hùng-Vương. Những sinh-hoạt lúc đó được ghi nhận qua nhiều hình ảnh trên trống đồng.
Như Tổ-tiên là Lạc-Long-Quân gần 5,000 năm về trước, chúng ta nhận Biển Đông là quê-hương. Có thể đây là đặc-điểm đáng nói về truyền-thống "nước" và "nhớ Tổ nhớ Tông" của những người con Hồng cháu Lạc. Trong khi ôm lấy Biển Đông, cho dù không mở được biên-cương về Bắc lấy lại Quảng-Đông, Phước-Kiến; chúng ta cũng đã thành-công trong kế-hoạch "Nam-Tiến".
Nhìn bản-đồ Đông-Á, chúng ta có nhận-xét khá lý-thú. Trong kế-hoạch bành-trướng, Trung-Hoa cứ hướng về lục-địa, mở mang lãnh-thổ đến tận Trung-Á. Khi Nưóc Lâm-„p bị diệt-vong, con cháu rời xa biển rút sâu vào rừng núi Ai-Lao. Lúc quốc-gia Phù-Nam suy-thoái, dân họ cũng lùi dần vào nội-địa Cambodge. Chỉ có dân Việt-Nam duy-nhất mở hết vùng duyên-hải và đã đi hết con đường cho đến tận mũi Cà-Mau, biển Hà-Tiên. Quê-hương ta cứ nằm cạnh biển khơi và lãnh-thổ mãi mãi được ở sát bên bờ đại-dương Không có quốc-gia nào nằm bên bờ lục-địa mà lại có thành-tích vươn dài vươn xa như Việt-Nam chúng ta vậy.
Ngày nay, tuy diện-tích nước ta nhỏ hơn Thái-Lan và Nam-Dương , nhưng suốt dòng lịch-sử hơn hai ngàn năm qua , dân Việt đã luôn luôn đóng những vai trò quan-trọng nhất trong vùng Viễn-Đông. Và ... cho dù có miền Trung nhỏ hẹp làm thành một chiếc hành hang, đường biển vẫn tượng-trưng cho phương-tiện chuyển-vận chính dùng liên-lạc Bắc-Nam. (Biển Đông) vì thế đúng là yếu tố then chốt hợp nhất quốc-gia Việt-Nam trong một môi-trường kinh-tế chung.
 
23 - Nước: một hướng đi trở lại cội-nguồn
Chúng tôi muốn nói nhiều đến sinh-hoạt hàng-hải của những dân-cư thời cổ xưa đã từng liên-tục sống trên khắp vùng Đông-Á. Vùng đất sinh-hoạt của họ kéo dài từ sông Hoài đến lưu-vực sông Cửu-Long sang tận Nam-Dương Quần-đảo. Những nhà khảo cổ cho rằng trên một vùng rộng lớn như vậy, tuy các nhóm ngườì có sự khác-biệt nhưng lại chung sống tương-đối hoà-hợp với nhau. Trong đó, tập-thể đông nhất là những người (Bách)-Việt, một trong những giống "dân hàng-hải" tiền-tiến bậc nhất của nhân-loại. Không có chứng-tích nào, dù là nhỏ bé nhất đã cho thấy rằng họ từng bị một chủng-tộc khác truy-diệt, ít nhất cho đến khi người Tàu xuất-hiện, làm biến đổi hoàn-toàn bộ mặt Đông-Á và ảnh-hưởng đến cả nếp sinh-hoạt của dân-cư vùng Đông-Nam-Á.
Nếu đã tin-tưởng rằng "Những gì của César phải trả lại cho César", nhân-loại cần suy-luận lại và ghi nhận công-lao dân Việt về những phát-minh hàng-hải. Phần đóng góp này đáng kể như thiết-yếu trong tiến-trình văn-minh của loài người.
Chúng tôi cũng ý-thức rằng những di-sản "Văn-hóa Nước" của dân-tộc quý-báu như vậy cần phải được bảo-tồn và phát-huy. Chúng tôi kêu gọi các nhà nghiên-cứu về mọi ngành văn-hoá như sử-ký, địa-dư nước nhà, nên dành thêm nỗ-lực nghiên-cứu, cùng hợp sức nhau để tạo-lập được nhiều kết-quả tốt đẹp hơn.

Vũ-Quân

Phụ-Chú

(1) Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư Ngoại-kỷ, Ngô-Sĩ-Liên và các Sử-thần đời Lê, Bản dịch của Mạc Bảo Thần Nhượng-Tống, 1944, Đại-Nam, California in lại, thập-niên 1990, trang VII, "Cùng Bạn Đọc".
(2) Nhiều đặc-tính của văn-hoá nước được phân-tích và trình-bày trong sách "Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific", Sumet Jumsai, Singapore, Oxford University Press, 1988.
(3) Báo Việt-Nam, San José, Tết Đinh-Sửu, 1997.
(4) "Miền Bắc Khai-Nguyên", Cửu-Long-Giang, Toan-Ánh, Sài-Gòn 1969.
(5) Man's Story, World History in Its Geographic Setting, T. Walter Wallbank; Scott, Foresman &Co, USA, 1961, trang 45.
(6) Early Man and the Ocean, A search for the Beginnings of Navigation and Seaborne Civilization; DoubleDay &Company, Inc; New York, 1979, trang 3.
(7) Đỗ-Thái-Bình, Đại-dương và những Con Tàu, Phụ-bản Khoa học Phổ thông, Sài-Gòn, 1984, trang 8.
(8) Human Geography, Oxford University Press, Canada. 1995, trang 302.
(9) Đỗ-Thái-Bình, Đại-dương và những Con Tàu, Phụ-bản Khoa học Phổ thông, Sài-Gòn, 1984, trang 8.
(10) Charles W. Koburger, Jr., "The French Navy in Indochina, Riverine and Coastal Forces, 1945-54", Praeger, New York, 1991, trang 109: 90 percent of the communications system of Indochina is by water, whether by the China Sea, the rivers and their confluences, or c_s.
(11) Việt-Sử Tiêu-Án, Bản dịch của Hội Văn-Hoá Á-Châu, Sài-Gòn 1960.
(12) Bulletin de l'Ecole Franẫaise d'Extrême Orient, Vol. XXXIII, Hanoi, 1923, trang 137- 264.
(13) Sách Nanhai trade, Wang Gungwu, Kuala Lumpur, 1959, trang 23 viết một đoạn như sau: ...as the Yủehs had now become the subjects of the Han empire (-206 to 219), the author of the passage might have thought of them as Chinese. In this text, however, it is still necessary to make the distinction between the Yủehs and the Chinese...
(14) Eighth Voyage of the Dragon, Bruce Swanson, Naval Institute Press, Annapolis 1982, trang 1-12.
(15) Eighth Voyage of the Dragon, Bruce Swanson, Naval Institute Press, Annapolis 1982, trang 15: The anti-commercial attitude of the Confucian Chinese state was related to a traditional suspicion of merchants. The merchant, in fact, held a very low position on the Chinese social scale-fourth after the gentry, peasants, and artisans-and he was scorned for being parasitic."
(16) "Recherches on Ptolemy's Geography of Eastern Asia", Colonel G. E. Gerini, M.R.A.S., London, 1909.
(17) Vân-Đài Loại-Ngữ, Bản dịch và chú-giải của Phạm-Vũ, Lê-Hiền, Nhà sách Tự-lực, Sài-Gòn, 1973, trang 153.
(18) Southeast Asia, Tradition and Modernity in the Contemporary World, Donald G. McCloud, Westview Press, Boulder, 1995, trang 13.
(19) The Outline of History, H. G. Wells, Volume I, Garden City Books, New York, 1956, trang 465.
(20) The Outline of History, Volume I, trang 9.
(21) The Ocean in Human Affairs, Edited by S. Fred Singer, New York 1990.
(22) Nguyên-văn như sau: "the French dismissed Van Lang as a fairy tale, is now a national park, like our Independence Hall or Valley Forge, but more than two thousand years older in significance." (Understanding Vietnam, University of California Press, Berkeley and Los Angeles, 1993, trang 7.)
(23) Southeast Asia: A Past Regained, Time-Life Books, Managing Editor: Roberta Conlan Alexandria, Virginia, 1995, trang 18-19.
(24) Agricultural Origins and Dispersals, New York, 1952.
(25) New Light on a Forgotten Past, báo National Geographic, March 1971.
(26) Tập sách gồm có 6 vols. do nhà sách Gauthier-Villars: Paris phát hành trong những năm 1882-1908.
(27) Đăng tải trên hai số Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises 17(2):1-36; 18(1):1-25 [Hanoi], hai năm 1942-1943.
(28) Xem Stan Steiner, "Fusang, The Chinese Who Built America", New York, 1979, trang 17. Nguyên-văn câu dẫn-chứng của Stan Steiner như sau: "From the depth of his quandary, he (C. P. Fitzgerald) concluded ". . . there is little evidence that the Chinese had any contact with distant foreign people or knew of their existence before the second century B.C."
(29) "Fusang, The Chinese Who Built America", Stan Steiner, New York, 1979, trang17; nguyên-văn như sau: Many of the historians of the West have long found it difficult to contemplate, much less to encompass, the vast panorama o exploration and commerce that was created in early China. The ancients' history was too full of myth and legend. And these tales were so vague that even those who knew them did no know their meaning. Nor were the bone markings and cave scratches that the archaeologists were so fond of much more precise. Even the written history was suspect...
(30) Lỗ-Tấn Toàn-Tập, Thượng-Hải, 1948, trang 26. Dẫn lại trong "Tự hào là người Việt-Nam qua chứng liệu văn hoá lịch sử", Cao Thế Dung, Florida, 1989, Tựa, trang ii.
(31) Tự hào là người Việt-Nam qua chứng liệu văn hoá lịch sử, Cao Thế Dung, Florida, 1989, trang 14.
(32) Tựa sách "Việt-Nam Sử-lược", in lần thứ nhất, Sài-Gòn, 1971; q. 1.
(33) Gốc Rễ Triết Việt, trang 61.
(34) Laurence A. Schneider, Ku Chieh-kang and China’s New History, Nationalism and the Quest for Alternative Traditions, University of California Press, 1971.
(35) The Golden Peninsula, Culture and Adaptation in Mainland Southeast Asia, Charles F. Keyes, Macmillan Publishing Co., Inc.; New York, 1977, trang 194.
(36) Dragon Entangled, Indochina and the China-Vietnam War, M. E. Sharpe Inc., New York, London, 1992, trang 5. Nguyên-vănAnh-ngữ: The endemic political crisis that plagued the rulers of traditional Vietnam was a consequence, in part, of unsuccessful efforts to impose a Confucian-derived ideal order on a world very different from that which the order had originally been developed.
(37) Alexander Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Cambridge: Harvard University Press, 1971, trang 220.
Nguyên văn: It was ever more true in southern Vietnam which "was more Cambodian, more Buddhist, less Confucian, less Sino-Vietnamese than the central and the north." 65 (65 Alexander Woodside’s Book
(38) Stephen C. Jett, "Diffusion Versus Independent Development" in C. L. Riley et al. (eds.), Man Across the Sea, Austin and London, 197l, trang 5-53.
(39) Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific, Sumet Jumsai, Singapore, Oxford University Press, 1988, trang 1-2. Introduction.
(40) Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam, Viết tắt NGMLCDTVN, Bách Bộc, Sài-gòn, 1971, trang 8.
(41) Một đoạn phụ-chú viết kiểu "khôi-hài"như sau về Khổng-Tử: The great Legge, in his translation (The Chinese Classics, Vol 1:Confucian _ects), P. 38, made out that Confucius intended to get on a raft and drift aimlessly at sea. Doubtless he did not know of the existence of excellent sailing-rafts, but it was a pity to generate yet one more unnecessarily fatuous Occidental conception of China.
(42) Kinh Việt, Sứ điệp Hạnh phúc của Văn hoá Việt; Nhà xuất-bản Hoa Tiên Rồng Brisbane - Australia, 1993, Lời Mở, trang 5
(43) Nguồn gốc Dân-tộc Việt-Nam, Nguyễn-khắc-Ngữ, Montréal 1985.
(44) Xin xem bài "Hàng-hải và Rễ Dân-tộc", Lướt Sóng Só 29&30, Xuân Đinh-Sửu 1997.
(45) Dẫn trong NGDTVN , trang 473
(46) Việt-nam Sử-lược, Trần-Trọng-Kim, trang 4.
(47) Việt-Sử Toàn-thư, Phạm-Văn-Sơn, Sài-Gòn 1960, trang 593.
(48) Human Geography, William Norton, Oxford University Press, Ontario, Canada, 1995, trang 149
(49) NGMLCDTVN, trang 307.
(50) Vietnam : A Political History, Frederick A. Praeder, Publishers, New York- Washington, 1968, trang 18.
(51) Vietnam's Will to Live - Resistance to Foreign Aggression from Early Times Through the Nine_th Century, Monthly Review Press, New York and London, 1972.
(52) Viet Nam & The Struggle for National identity, Westview Press Colorado, 1992, trang 9-11.)
Nguyên-ngữ tiếng Anh: The two essential elements that contributed to the molding of the early Vietnamese social organization have been the struggle against nature and the struggle against a mighty neighbor to the north. In the process, the Vietnamese developed into one of the most determined, persistent, and tenacious people anywhere.
(53) "Trống Đông-Sơn",Phạm Minh Huyền, Nguyễn-Văn-Huyên, Trịnh-Sinh; Viện Khảo Cổ Học, Hà Nội, 1987, trang 231.
(54) Tác-giả sách "The Birth of Vietnam", University of California Press, California, 1983.
(55) C.P. Fitzgerald "The Southern Expansion of the Chinese People: Southern Fields and Southern Ocean", Barrie & Jenkins, 1972.
(56) New York, 1979: 70.
(57) The Birth of Vietnam, Keith Weller Taylor, University of California Press, 1983, trang 6: "The idea of an aquatic spirit's being the source of political power and legitimacy, which attended the formation of the Vietnamese people in prehistoric times, is the earliest hint of the concept of the Vietnamese as a distinct and self-conscious people."
(58) Miền Bắc Khai-Nguyên, Cửu-Long-Giang, Toan-Ánh, Sài-Gòn 1969, trang 37
(59) Tác-giả: Phạm Minh Huyền, Nguyễn-Văn-Huyên, Trịnh-Sinh; Viện Khảo Cổ Học, Hà Nội, 1987, trang 231
(60) Lê Nhâm Tuyết, Một số phong tục thời Hùng Vương qua những hình ảnh trên trống đồng, Tạp-chí Khảo Cổ Học số 14, 1974, trang 61.
(61) Viet Nam & The Struggle for National Identity, D. R. SarDesai, Westview Press Colorado, 1992, trang 9: According to one of the numerous legends concerning the origin of their state, a Vietnamese prince named Lac Long Quan came to northern Vietnam from his home in the sea.
(62) Vietnam: A Political History, Joseph Buttinger Frederick A. Praeder, Publishers; New York-Washington, 1968, trang 3.
(63) Chỗ hẹp nhất chỉ rộng có 30 hải-lý, tức 1/ 30 chiều dài cả nước (900 hải-lý). (Funk & Wagnalls New Encyclopedia, Vol.23, New York, 1992, từ-mục: Vietnam.)
(64) Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne, Paris, 1955). Malcolm Salmon dịch ra Anh-ngữ: "The Vietnamese Nation - Contribution to a History by Jean Chesneaux", Sydney, 1966. Nguyên-văn: Even more than the often narrow coastal corridor of Central Viet Nam, the sea represents the main line of communication between north and south- it is therefore an essential element of Vietnamese national unity in the economic sphere.


Trân Trọng
Hà Phương Hoài

Replies:


Reply author: Linh Phuong
Replied on: 07/25/2007 19:15:07
Message:


Hàng-Hải, Truyền-Thống Lâu Đời Việt-Nam

Vũ Hữu San

1- Những con người đầu tiên sống với biển cả

Một số người trong chúng ta có thể mặc cảm về trình-độ yếu-kém của ngành hàng-hải xứ ta hiện nay so với các nước tiền-tiến trên thế-giới mà quên rằng tổ-tiên giống Việt đã qua thời-gian dài trong quá-khứ, luôn luôn đi tiên-phong trong lãnh-vực quan-trọng này.

J. B. Piétri khi làm thanh-tra ngư-nghiệp ở Đông-Dương sau thế-chiến II, đã đưa ra một nhận-xét tưởng như mờ nhạt nhưng ngẫm ra rất chí-lý khi giải-thích cho những người ngoại-quốc nhầm tưởng dân Việt-Nam ghét biển, sợ sóng gió như sau: "Trên một vùng biển mà giông bão bao-trùm thường-xuyên nhất trên thế-giới với khu duyên-hà được mệnh-danh là Bãi Sắt (Côte de Fer) như vậy..., chúng ta bắt gặp nhiều cách-thức hàng-hải gan-dạ nhất và đồng-thời cũng cổ-lỗ nhất. Một ngư-phủ Hà-Tĩnh mình trần-trụi, khoác theo một cái lưới nhỏ chéo vai, cưỡi trên một thân cây tre, xông ra khơi vừa bơi vừa lưới suốt một khoảng xa từ 3 đến 6 hải-lý (và đó là công-việc thường-xuyên.) Còn nữa, anh ta lại dùng cần câu cá, làm việc cả ngày dưới cái nắng mặt trời _ gắt; liên-tục lắc lư, trồi lên hụp xuống theo những lượng sóng lớn lao. Người ngư-phủ này chỉ vội vã trở về nhà vào buổi tối để rồi sẵn sàng khởi-sự ra khơi vào sáng ngày hôm sau. Đã từ biết bao nhiêu thế-kỷ trước đây, việc làm biển như vậy có thể là cách-thức sinh-hoạt của những con người đầu tiên sống với biển cả hay không?" (Voiliers d'indochine, Saigon 1949: 1.)

Hình-ảnh kể trên nói lên được phần nào tinh-thần can-đảm theo truyền-thống của những người dân Việt-Nam sinh-nhai bằng ngư-nghiệp mà Piétri đã tặng cho cái danh-dự là những "con người đầu tiên sống với biển cả".

Một người Pháp nữa, Ông A. Gruvel, nghiên-cứu về cách thức đánh cá thời tiền-sử đăc-biệt thông-hiểu về cổ-thời Việt-Nam, xuất-bản sách "Pêche dans la Préhistoire dans l’ Antiquité et chez les peuples primitifs", Paris, 1928). Theo đó, người Việt thuở xưa là những ngư-dân tài giỏi. Có nhiều đoạn văn bàn về cách đánh cá của dân ta từ thời tiền-sử. Đặc-biệt có tới 8 bức hình vừa vẽ tay vừa do máy ảnh chụp những cảnh ngư-phủ hành nghề ở Bắc-phần (Tonkin) và Trung-phần (Annam) Việt-Nam. (Xin xem thêm nơi phần Chú-thích)

Sau đây bài viết đi xa hơn một chút, nói nhiều hơn đến những khung-cảnh rộng rãi hơn nữa. Đó là sự trình-bày về các truyền-thống và hoạt-động hàng-hải viễn-duyên lúc xưa của dân-tộc ta.

2 - Người Việt, giống dân siêu-việt

Ca tụng về đức-tính can-đảm, kiên-cường và hùng anh lẫm liệt của Dân-tộc Việt-Nam, chúng tôi nghĩ cũng tựa như ca-tụng "nhà giầu lắm của." Nhiều người ngoại-quốc đã lên tiếng vinh-danh Việt-Nam. (Tự hào là người Việt Nam qua chứng liệu văn hoá lịch sử, Cao Thế Dung, Nhà Xuất Bản Hưng Đạo, Florida, 1989, Tựa, Trang i.) Riêng trong sinh-hoạt hàng-hải, truyền-thống người Việt xứng đáng vinh-danh.

Lời ca-ngợi "Người Việt là giống dân siêu-việt" có lẽ bị nhiều người cho là "đại-ngôn", vì họ không mấy tin-tưởng là một phát-biểu đúng đắn. Tuy vậy, những khám-phá mới đây chứng-minh điều đó đã một thời là sự thực. Tiền-nhân chúng ta đã dẫn đầu nhân-loại trong một số lãnh-vực mà quan-trọng nhất là về các sinh-hoạt hàng-hải, song song với các sinh-hoạt canh-nông và luyện kim.

Xét theo ngữ-vựng, "Việt" được hiểu như siêu việt. Danh-tự "Việt" có nghĩa là vượt như vượt biển, vượt sông, vượt khó khăn...

Một định-nghĩa tương-tự về danh-từ Việt-Nam được chép ra từ sách "insight Guide Vietnam" , Edited by Helen West, Printed in Singapore by Haffer ?? Press, 1995,p. 28.) như sau: Danh-tự Việt là tiếng phát-âm của một chữ có nghiã là ở ngoài, ở xa. Cũng còn nghiã là vượt, đi qua, giữ cho đúng. Danh-tự Nam nghiã là phương Nam, có lẽ để chỉ sự khác-biệt giữa các tộc Việt khác ở lại sinh-sống trên xứ Trung-hoa và tộc Việt đã bỏ đất, di-chuyển về Nam. Nguyên-văn. "The word Viet is the Vietnamese pronunciation of a Chinese character meaning beyond or far. it also has the sense of "to cross", "to go through", "to set oneself right". The character Nam, meaning South, probably served to differentiate between the Viets in the North who remained in China and those who had left and headed South".

Quan-điểm riêng của chúng tôi sẽ được trình-bày ở chương sau, hơi khác ở hai điểm sau:

- Hầu hết người Việt-Nam là một giống dân bản-địa vùng Biển Đông, khi nước biển dâng lên vào cuối thời Băng-đá mười mấy ngàn năm trước, tiền-nhân ta đã tập-trung lại sinh sống tại châu-thổ sông Hồng, sông Mã . Trong cùng hoàn-cảnh, các giống dân Biển Đông khác bị dồn về phía Nam lục-địa Trung-Hoa. Sau này người Tàu mới xuất-hiện, họ gọi chung các giống dân này và chúng ta vào nhóm Bách-Việt.

- Vì vùng châu-thổ của dân ta thuận-hảo cho sự sinh-họat, một số di-dân đã đổ đến sinh sống. Trong thành-phần di-dân sau này, các sắc dân Bách-Việt chiếm tỷ-lệ cao nhất. Dân này cùng thuộc khu-vực ảnh-hưởng của văn-hoá Hoà-Bình với các đặc-tính chủng-tộc và văn-hoá "nước" khá tương-tự với dân bản-xứ chúng ta.

3 - Địa danh Hoà-Bình Đông-Sơn

Trên bản-đồ Đông-Nam-Á nói riêng và Thế-giới nói chung, Hoà-Bình (Bắc-phần VN) và Đông-Sơn (Trung-phần VN) là hai địa-danh bé nhỏ mà từ lâu thường bị lịch-sử quên lãng. Tuy vậy, những khám-phá mới mẻ thuộc ngành khảo-cổ trong vòng hai, ba thập-niên vừa qua cho thấy nhiều chứng cớ là dân-cư ở đó trong cổ-thời là giống dân tiền-tiến bậc nhất của nhân-loại trong hai lãnh-vực nông-nghiệp và hàng-hải.

Ngày nay, địa-danh Hoà-Bình Đông-Sơn của Bắc-phần Việt-Nam được dùng trong các ngành khảo-cổ như sự tượng-trưng cho văn-hoá toàn vùng Đông-Nam-Á. (South-East Asia, A Social, Economic and Political Geography, Charles A. Fisher, Great Britain, second edition, 1966, p. 7.) Trong khảo-cổ-học, vùng này không những bao gồm lãnh-thổ Đông-Nam-Á hiện-thời mà còn nới rộng ra các miền châu-thổ của những con sông Hoài, Dương-Tử và Tây-Giang.

Ảnh-hưởng "văn-hoá nước" Hoà-Bình Đông-Sơn trước "tai-nạn Đại-Hán" đã lan ra khắp mặt các mặt đại-dương. Công-trình nghiên-cứu của các học-giả hàng đầu thời cận-đại như Needham, Solheim, Grasso... chứng-minh rằng văn-minh cổ Việt khai sáng Hoa Bắc, ảnh-hưởng Địa-Trung-Hải, xuyên sang Úc-Châu, Đại-Dương Châu; chiếu sáng cả Mỹ-Châu lẫn Phi-Châu.

4 - Tiếng Tàu, Tiếng Việt và đặc-điểm ngôn-ngữ

Ngôn-ngữ đóng những vai trò quan-trọng trong tiến-trình văn-minh.

Ngoài việc đào sới đất cát, mò lặn đáy biểm tìm tìm tòi cổ-vật, một trong những phương-pháp mà các khoa-học-gia thường dùng trong môn khảo-cổ-học là truy-nguyên nguồn-gốc ngôn-ngữ :

"... Những ý-kiến gây sửng-sốt nhiều nhất do những người Mỹ đưa ra. Chẳng hạn, Tiến-sĩ Nhân-chủng-học Paul K. Benedict đã truy-tầm ra được nguồn-gốc của nhiều tiếng (word : tiếng, chữ, lời, danh-từ - Anh-Việt Tự-điển, Nguyễn-Văn-Khôn, Khai-Trí, Sàigòn, 1967) trước kia người ta cứ tưởng rằng người Đông-Nam-Á đã vay mượn của người Tàu . Ông tin rằng phải đúng ra ở chiều ngược lại, những tiếng đó là ngôn-ngữ Đông-Nam-Á cho người Tàu vay mượn. Những tiếng căn-bản đó biểu-thị sự tiến-triển của nền văn-minh như cái cầy và hạt giống, nấu nung và đồ gốm, búa rìu và ghe thuyền, sắt và vàng ..." (trang 306, National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971.)

Người Việt là giống dân tiền-tiến của vùng Đông-Nam-Á. Khi nghiên-cứu Việt-ngữ, người ta tìm ra nhiều minh-chứng là trong cổ-thời, trình-độ sinh-hoạt của dân ta rất tiến-bộ. Ngôn-ngữ của dân ta vào thời đó khác-biệt hẳn với Hoa-ngữ. Đặc-biệt hơn nữa, Việt-ngữ nhuộm rất đậm màu hàng-hải và nông-nghiệp. Chúng tôi xin bàn một cách rộng rãi hơn về một số đặc-điểm của ngôn-ngữ Việt-Nam trong những đoạn và chương tiếp theo sau.

5 - Các Nông-gia tiền tiến

Đối với sinh-vật và nhất là con người, không có gì thân-ái, quý-trọng hơn là chính cái thân-thể của ta. Người Việt gây giống rau cỏ, bầu bí, cây trái từ những loại cỏ dại, giây rừng, cây hoang làm thực-phẩm nuôi thân, mở đường cho loài người bước lên nền văn-minh nông-nghiệp. Dân ta hẳn đã suy-ngẫm chín chắn đến mức-độ sâu xa nào đó mới gọi tên các bộ-phận trong thân-thể là lá (lá gan, lá phổi, lá lách, lá mía ...), là quả là trái (quả tim, trái thận ...)

Sử Việt và sử Tàu thời trước đều ghi chép rằng người Trung-Hoa đã dậy người Việt cách thức làm ruộng và trước thời Bắc-thuộc, dân ta chỉ biết dùng cuốc bằng đá. Ngành khảo-cổ ngày nay khám-phá nhiều chứng-cớ khác hẳn. Năm 1957, người ta tìm được tại thành Cổ-Loa ngoài những mũi tên đồng, rìu đồng, còn có ba lưỡi cầy bằng đồng. Sự khám-phá ra lưỡi cầy đồng chứng-minh sự tiến-bộ trong ngành nông-nghiệp ỏ vùng châu-thổ sông Hồng (Phạm-Cao-Dương, Lịch-sử dân-tộc Việt-Nam, quyển 1, Truyền-thống Việt, Hoa-Kỳ, 1987; trang 5.) nhiều thể-kỷ trưóc Tây-lịch.

Theo Huyền-sử dân-tộc, chúng ta thuộc dòng giống vua Thần Nông, tức con cháu Ông Thần Nông-Nghiệp. Điểm này lại phù-hợp với truyền-thuyết của người Đông-Á. Vua Thần-Nông là người họ Khương, mộ chôn ở gò đất Thương-Ngô, Trường-Sa; đất ấy trước đời Tần - Hán là đất đai Bách-Việt, không phải đất Hoa-Hạ (Trong Cõi, Những Ý kiến về Lịch sử, Truyền thống và Hiện trạng Dân tộc của một Sử gia trong nước, Trần-Quốc-Vượng, Hoa-Kỳ, 1993: 54- 55.)

Vào cuối thập-niên 1940 có nhiều cuộc nghiên-cứu mới về thảo-mộc hữu-dụng ở Đông-Nam-Á, trong đó công việc của một người Nga, ông N. i. Vavlov rất đáng được chú-ý. Sau những năm kiên-trì làm việc, Vavlov đã cố gắng thuyết-phục giới Khoa-học rằng Đông-Nam-Á đúng là một trung-tâm Nông-nghiệp của Cựu-thế-giới. Vùng này đã trồng trọt những loại cây nhiệt-đới và bán nhiệt-đới đầu tiên, sản-xuất trái và củ để ăn. Ngoài việc tạo-dựng nền nông-nghiệp lúa nước, vườn cây ăn trái, ruộng khoai sắn; người Đông-Nam-Á còn được biểt đển vì công-trình gia-súc-hoá loài heo và gà vịt, tức là những con vật chăn nuôi căn-bản của loài người. (The Origin, Variation, immunity, and Breeding of Cultivated Plants (translated from the Russian by K. S. Chester) in "Chronica Botanica, Vol. 13, Nos. 1-6, 1949/50.)

Về địa-lý, Việt-Nam là một dải đất nối liền hai vùng đất mà khoa-học đã xác-nhận là hai trung-tâm phát-xuất nông-nghiệp: Trung-Hoa và Đông-Nam-Á. Cho dù rằng chỉ một trung-tâm nào đó là chỗ khởi nguyên việc trồng trọt của nhân-loại thì vùng đất người Việt sinh sống thời cổ cũng hiển-nhiên là những vị-trí quan-trọng trong tiến-trình văn-minh của nhân-loại.

6 - Các nhà Hàng-hải tài-danh

Người Việt yêu cây cỏ rất nhiều mà yêu sông biển cũng không kém. Sử sách Việt-Nam và Trung-Hoa đều cho biết:

"Người Việt-cổ sinh hoạt dưới nước nhiều hơn ở trên cạn nên bơi lội rất giỏi, biết làm các thứ thuyền nhỏ là Linh và thứ thuyền nhỏ thân dài là Đĩnh, thuyền lớn gọi là Tu-lự, thuyền có lầu tức Lâu-thuyền và thứ thuyền có gắn mũi qua tức là Qua-thuyền...

Theo Hoài-Nam-Vương Lưu-An đời Hán, thì người Việt rất thạo thủy-chiến, rất quen dùng thuyền, ở trên cạn ít mà ở dưới nước nhiều. Họ cắt tóc, xâm mình, đóng khố ngắn để tiện bơi lội, tay áo cộc để tiện chèo thuyền." (Việt-sử Toàn-thư, Phạm-Văn-Sơn, Sài-gòn 1960, các trang 23, 28.)

Đồng ruộng của dân ta phần lớn là đồng ruộng ngập nước. Lạc-Long-Quân, một vì vua "anh-hùng văn-hoá" đã dạy dân Lac-Việt trồng cấy trên ruộng ngập nước. Ruộng này gọi là ruộng Lạc. Một thời-điểm quan-trọng của nền văn-hoá đó là khi dân ta biết lợi-dụng thủy-triều để "dẫn-thủy nhập-điền" vào thế-kỷ thứ 6 TTL. (Vietnam: A Country Study (Area Handbook Series), US Government Printing Office, Washington D.C. 1989, p. 7.)

Dân ta gắn chặt với nước, liên-hệ nhiều đến nước, Nhà thơ Viên-Linh phát-biểu ý-nghĩa đó trong dịp tái-phát-hành tập thơ "Thủy-Mộ-Quan" tại Paris tháng 7-1992 như sau: "... tôi tự hỏi tại sao phụ-nữ ta, dân-tộc ta phải theo nhau tìm vào sóng nước như thế ? Mới thấy n_ từ trang 1 của Lịch-sử và Huyền-sử dân-tộc, đã là mặt nước, là Động-Đình-Hồ. N_ từ đầu, ta sống với thủy-quái, nên có tục vẽ mình. Những cái chết được nhắc nhở nhiều là những cái chết nơi đáy nước. An-Dương-Vương mất nước, chém công-chúa rồi nhảy vào lòng biển. Trọng-Thủy nhảy xuống giếng chết sau khi biết Mỵ-Châu đã không còn. Truyện Sơn-Tinh, Thủy-Tinh. Cái chết của hai Bà ở Hát-Giang. Những mối oan-tình thác nơi sông nước như Trương-Chi Mỵ-Nương, thiếu-phụ Nam-Xương, hồn Vong-phu, nàng Tô-Thị v.v... Và sông Gianh chia cắt sơn-hà, Bến-Hải phân đôi đất nước v.v... Những trâu vàng hồ Tây, những hồ Hoàn-Kiếm, những đầm Dạ-Trạch, những Chử-Đồng-Tử sống trần truồng ngoài biển xưa và những người nữ lõa-lồ trên các hoang-đảo bây giờ ..." (Nhà thơ Viên-Linh nói về "Thủy-Mộ-Quan", Thuỵ-Khê, Hồn-Việt Vol. 17, No. 107, August 1992.)

Người Cổ Việt sống trên sông hồ, biển cả, họ yêu nước đến độ gọi tổ-quốc, quê-hương, lãnh-thổ, quốc-gia là nước. Giống dân này làm nhà trên mặt nước, cạnh bờ nước, hành nghề chài lưới lặn lội trong nước, sinh sống với tôm cá là sinh-vật của nước. Cả đời họ gắn liền với nước, nước nuôi sống họ, nước cũng bảo-vệ họ và nhiều khi thân xác họ cũng chìm theo dòng nước... Vì nhu-cầu sinh-hoạt trên nước và cũng có thể vì yêu thích nước, người Việt đã đóng góp rất nhiều phát-minh hay cải-tiến kỹ-thuật liên-hệ đến ghe thuyền, nhiều ít làm thay đổi dòng lịch-sử nhân-loại.

Theo học-giả Trung-Hoa Chang Kwang Chih, "Văn-minh miền Đông-Nam có bản-chất hướng về biển cả và được biết qua sử sách, người Bách-Việt (có biệt-danh là) các Nhà Hàng-Hải (tài-danh), khác-biệt với người Tàu miền Bắc là dân gắn bó chặt chẽ với đất liền." (Chinese Prehistory in Pacific Perpective: Some Hypotheses and Problems, 1959, Harvard Journal of Asiatic Studies 22: 100-149.)

Nhiều tài-liệu Âu-Mỹ minh-chứng Việt-Nam là vùng đất phát-sinh hầu hết những phương-tiện đầu tiên về chuyển-vận đường thủy mà chúng tôi xin trình-bày ở một chương riêng biệt về công-trình phát-minh.

Hình - Địa-bàn sinh sống trước đây 3,000 năm theo sử Trung-Hoa và Việt-Nam: người Tàu trong đất liền và người Việt ngoài bờ biển.

7 - Truyền-thống trải dài trong không-gian và thời-gian

Theo truyền-thuyết nhà Hồng-Bàng là dòng vua đầu tiên trị-vì giống dân Lạc-Việt từ năm 2879 đến năm 258 TTL., như vậy nước ta đã có gần 5,000 năm lập-quốc. Tuy vậy những khám-phá mới mẻ trong ngành khảo-cổ càng ngày càng đưa thêm ra các bằng-chứng về sự hiện-diện của tổ-tiên chúng ta trên đất nước Việt-Nam trong những khoảng thời-gian dài trước đó rất lâu .

- Người Việt đi biển từ thời Đồ Đá.

Các tài-liệu khảo-cổ cho ta thấy một sự liên-tục của tiến-trình văn-minh và sự hiện-diện của giống Việt trên bờ biển Đông-Á đã từ một thời-gian hàng chục ngàn năm trước Tây-lịch.

- Thời Băng-Đá.

Hai ngành địa-chất-học và hải-dương-học hiện nay đã tiến-bộ rất nhiều. Những kiến-thức và phương-tiện mới mẻ giúp nhân-loại khám-phá ra được rất nhiều điều bí-mật trong quá-khứ, đặc-biệt từ thời Băng-Đá.

William Meacham đã đưa ra hình-ảnh khá chi-tiết về sự hình-thành nền văn-minh đặc-thù hàng-hải của dân Việt. Sau đây là tóm-lược một số điểm quan-trọng trong thuyết của Meacham:

- Vào thời Băng-Đá hơn một chục ngàn năm trước đây đã có dân-cư dọc bờ Đông-Á, sinh sống nhờ cách bắt sò hến, tôm cá. Meacham cho rằng họ là tiền-nhân giống Việt sau này.

- Khi nước biển dâng cao, bờ biển từ hàng trăm dậm Anh ngoài khơi, rút gần về vị-trí như hiện nay. Sự gia-tăng mật-độ dân-số tạo nên nhiều dịp trao-đổi tư-tưởng, cải-tiến kỹ-thuật. Trong khi thay đổi môi-trường sinh sống như vậy, một nền văn-minh hàng-hải đã phát-triển. Thuyền đi ven biển đầu tiên có lẽ là loại bè tre, xuất-hiện khoảng 10,000 năm TTL.

- Bắc-phần Việt-Nam, nơi sự định tuổi bằng Carbon-14 được coi là chính-xác nhất trong vùng Đông và Đông-Nam Á-Châu cho thấy nền văn-minh Đồ Đá Hoà-Bình đã tiến-triển trong khoảng thời-gian 9,000- 5,600 năm TTL., Bắc-Sơn 8,300-5,900 năm TTL., liên-tục qua nhiều nền văn-minh; sau này tới thời Đồ Đồng của Phùng-Nguyên 3,000-1500 năm TTL., rồi Đông-Sơn 500 năm TTL., rõ ràng nhuốm mầu sắc hàng-hải. (Origins and Development of the Yủeh Coastal Neolithic: A Microcosm of Culture Change on the Mainland of East Asia, sưu-tập "The Origins of Chinese Civilization", edited by David N. Keightley, London 1983: 147-175.)

8 - Người Biển Orang Laut

Giống như dân du-mục nay đây mai đó trên đất liền, trong vùng biển Đông-Nam Á-Châu lúc xưa cũng có những bộ-lạc thường-xuyên di-chuyển sinh sống lang thang trên biển. Danh-từ chỉ-danh cho họ là "Người Biển" (Orang-Laut), có thể nói là trái nghĩa với Người Rừng, Dã-nhân (Orang-Outang) sống trên rừng núi.

Theo nhà nghiên-cứu hàng-hải Clinton R. Edwards, thuyền độc mộc ở Đông-Nam-Á cổ tới 10,000 năm. Căn-cứ vào cách-thức kiến-tạo thuyền ván kết mà ông cho là rất phong-phú, xuất-hiện cùng thời với thuyền độc-mộc, Edwards tin-tưởng rằng truyền-thống đi biển của Người Biển Orang-Laut đã khởi-sự nhiều ngàn năm trước khi người Đông-Nam-Á phát-triển nông-nghiệp. (Bài Pre-European Voyaging in the Pacific, trong sưu-tâp "Early Chinese Art and its Possible influence in the Pacific Basin", Vol. 3, 1972: 843-887.)

Truyền-thống hàng-hải của người Lạc-Việt chúng ta đi từ truyền-thống của "người Biển". Dân ta xứng-đáng được suy-tôn là tiền-tiến trong việc kiến-tạo ghe thuyền. Kỹ-thuật khởi đi từ việc đóng những loại bè thô-sơ, rồi đến thuyền độc-mộc và đặc-biệt đã đạt đến kỹ-thuật hoàn-bị nhất trong các loại thuyền ván kết.

Sau nhiều ngàn năm "hải-du", có những nhóm Người Biển định-cư lại trên các vùng duyên-hải, duyên-hà; nhưng vẫn còn nhiều nhóm tiếp-tục cuộc sống trên sông nước, biển cả. Sự phân-phối trống đồng Đông-Sơn đi nhiều nơi xa xôi trong thiên-kỷ thứ nhất TTL. đúng là chứng-cớ hiển-nhiên của truyền-thống hàng-hải này.

9 - Truyền-thống biểu-hiện trong Ngôn-ngữ, Nghệ-thuật

Trong ngôn-ngữ Việt-Nam, những tiếng: nước, sông, biển, sóng, gió, buồm, lái v.v... rất nhiều. Những từ-ngữ hàng-hải được dùng dưới nhiều hình-thức để biểu-lộ tư-tưởng, có nhiều nghĩa đen, nghĩa bóng khác nhau. Qua ngôn-ngữ bình-dân cũng như qua văn-chương, người ta thấy ẩn-hiện đâu đó nhiều hình-ảnh, mỹ-từ liên-hệ đến các hoạt-động trên sông nước. Những người ngoại-quốc đọc sách Việt, nghe người Việt nói đều ghi-nhận đặc-điểm này. Hai học-giả Pierre Huard và Maurice Durand thuộc Trường Viễn-Đông Bác-Cổ là những người Pháp đóng góp nhiều cho các công-trình khảo-cứu văn-hoá Việt-Nam cũng đã từng xác-nhận rằng tiếng Việt rất phong-phú các từ-ngữ hàng-hải. (Connaissance du Việt-Nam, Hanoi 1954: 232.)

Người Mỹ như Đại-tá Thủy-quân Lục-chiến Victor Croizat còn có một nhận xét khá đặc-biệt về ngôn ngữ những miền khai-nguyên của Việt-Nam. Ông thấy rằng dân-cư từ vùng châu-thổ sông Hồng đến khu-vực Đèo Hải-Vân dễ bị nhận ra là những dân duyên-hải sinh-sống bằng ngư-nghiệp vì tiếng nói của họ đầy ngôn-từ hành thủy. (The Brown Water Navy, The River and Coastal War in Indo-China and Vietnam, 1948-1972, Col. Victor Croizat, USMC, Blanford Press, 1984, p.23.)

Chúng ta đã sống xát với Trung-Hoa lại bị họ đô-hộ cả ngàn năm, văn-hoá ta đã chịu nhiều ảnh-hưởng của họ, nhất là phần ngôn-ngữ triết-học,văn-chương. Tuy vậy dân ta vẫn lưu giữ được hầu như toàn-bộ tiếng nói bình-dân rất gần với thời tiền đô-hộ. Đặc-biệt nhất là ngôn-ngữ hàng-hải, vì mang tính-chất đặc-thù dân-tộc nên người ta vẫn còn tìm thấy nhiều tiếng hoàn toàn là ngôn-ngữ cổ-nhân.

Ngôn-ngữ chúng ta chắc chắn đã nhuốm mầu sắc hàng-hải đậm nét từ lâu đời. Thứ ngôn-ngữ hàng-hải này không những chỉ nhận thấy ở bán-đảo Hoa-„n mà có thể đã được tiền-nhân chúng ta đem đi truyền-bá rất xa trên các bước đường hải-hành viễn-duyên hay xuyên-dương. Nhà ngôn-ngữ-học Paul Rivet minh-chứng rằng ngôn-ngữ Đông-Nam-Á mang tính chất hàng-hải đã theo đường biển đi tới tận Nhật-Bản, Tasmania, Địa-trung-Hải, Phi-Châu, Mỹ-Châu. (Sumérien et Océanien, trong Collection linguistique, publiée par la Société de la linguistique de Paris 24, Paris, 1929.)

Những hình-ảnh sông, hồ, biển, nước ... gắn liền với thân-phận người dân Việt chúng ta đầy dẫy trong huyền-sử, lịch-sử, đời sống đã được nhiều văn, thi, nhạc, họa-sĩ say mê diễn-tả dưới nhiều hình-thức. Các hình-ảnh hàng-hải sống thực ấy cũng là những đề-tài phong-phú cho các ngành nghệ-thuật khác. Về nhiếp-ảnh, nhiếp-ảnh-gia đoạt nhiều giải-thưởng quốc-tế Trần-cao-Lĩnh viết rằng: "Nếu nói: Biển Việt-Nam là một trong những kho tài-nguyên sung-túc cho xứ-sở thì với nhiếp-ảnh, Biển Việt-Nam cũng là một nguồn vô-tận cung-cấp cho nghệ-sĩ những đề-tài phong-phú nhất..." (Việt-Nam Quê-hương Muôn Thuở, My Country Forever, Trần-cao-Lĩnh, France, 1984: 27.)

Lời nói của anh-hùng hào-kiệt nước ta tràn ngập bởi gió, sóng, biển, bờ ... Thí-dụ như câu: "Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở Bể Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp người ta." Lời bà Triệu-thị-Chinh, khi khởi binh đánh quân Ngô (năm 248) (Trần-Trọng-Kim, Việt-Nam Sử-lược, viết tắt VNSL, in lần thứ nhất Sài-Gòn, 1971; q.1. tr. 47.)

10 - Giải-trí cũng trên sông, trên nước

Truyền-thống hàng-hải của dân Việt cũng thể-hiện cả trong những cách giải-trí của cổ-thời mà người ta còn thấy tiếp-tục tồn-tại đến ngày nay. Những ngày hội nước dưới nhiều hình-thức diễn ra ở nhiều nơi trên quê-hương ta.

Đây là cảnh đua thuyền, múa hát và múa rối nước tại kinh thành Thăng Long, được mô tả trong bài văn bia Sùng Thiện Diên Linh (Duy Tiên - Nam Hà, khắc năm 1121):

"Hàng nghìn chiếc thuyền bơi giữa dòng nhanh như chớp, muôn tiếng trống khua hòa nhịp với tiếng nước như sấm động ... Làn nước rung rinh. Rùa vàng nổi lên đội ba quả núi, nước chảy nhịp nhàng, lộ vân trên vỏ và xòe bốn chân, nhe răng, trợn mắt, phun nước biểu diễn Điệu say sưa trên mặt nước tràn đầy ... Các thần tiên xuất hiện, nét mặt nhuần nhị thanh tân, há phải đâu vẻ đẹp của người trần thế. Tay nhỏ nhắn, mềm mại múa điệu hồi phong. Nhíu mày biếc ca khúc vận hội. Chim phượng có sừng họp nhau thành đội ra múa may, phô diễn. Hươu họp thành đàn đi lại, nhảy nhót ..." (Quê-Hương Bốn ngàn năm, Thủy quân - Hải quân các thời xa xưa, Mai-Lân biên-khảo, Lướt Sóng Xuân Mău Dần 1998, trang 105-121)

Hát hò.

Trên sông rạch, hồ ao, đồng ruộng Việt-Nam những ngày thanh-bình, người dân quê trong khi chèo thuyền, đánh cá, gặt hái thường hay hát hò. Một người cũng hát mà mhiều người cũng hát. Một điệu hát có thể được nhiều người láy lại một hai câu ở cuối khúc bài hát. Hò khoan là tiếng hò sau câu hát để những người hát cùng nhau mà ra sức.

Có nhiều điệu hò như hò mái đẩy, mái nhì, hò chèo ghe... Tất cả đều rất trữ-tình và nặng chĩu những mầu sắc sông hồ, đồng ruộng quê-hương. Nhạc-sĩ Trần-Văn-Khê sắp xếp kiểu hát hò này vào loại "Đối-ca Nam-Nữ" và cho biết loại đối-ca như vậy đã ảnh-hưởng ra tất cả các nước Đông-Nam-Á. Ông viết: "... — Việt-Nam, những câu hò đối đáp trên những con sông dài, hò chèo ghe Hậu-Giang, hò mái đẩy, hò mái nhì miền Trung, hò sông Mã ở Thanh-Hoá..." (Âm-nhạc Đông-Nam-Á, nhà xuất-bản Đông-Nam-Á 1986.)

Hình - Hát hò trên sông qua hình ảnh Trương-Chi

Bơi chải, Đua thuyền

Tục đua thuyền rất phổ-thông ở nước ta. Ông Phan-kế-Bính trình-bày tục này như sau:

Gần hồ gần sông thì thi bơi chải, năm sáu chiếc thuyền hoặc mươi chiếc, họ hay làm đầu rồng đuôi tôm bằng giấy để trên đầu thuyền và dưới đuôi thuyền, gọi là thuyền rồng. Mỗi thuyền độ chín mười người (mỗi người) cầm một cái bơi chèo, và có một người đứng đuôi thuyền cầm lái. Người thuyền nào mặc áo sắc riêng thuyền ấy. Giữa sông hoặc giữa hồ có cắm một lá cờ và treo một bánh pháo. Thuyền sắp đều một hàng. Có người cầm trống, hễ nghe mấy tiếng trống hoặc phất cờ thì đua nhau mà bơi. Thuyền nào bơi mau ra chỗ cắm cờ, đốt bánh pháo, nhổ được lá cờ đêm vào thì được giải. (Việt-Nam Phong-tục, Sống Mới, Arizona 1983.)

Đua thuyền cũng có tính-cách kể truyện lịch-sử như tại Hoa-Lư Ninh-Bình. Hàng năm vào rằm tháng hai khi dân làng mở hội kỷ-niệm Đinh-Tiên Hoàng-Đế tại đền vua thì cũng có cuộc thi thuyền trên sông Hoàng-Long-Giang để nhớ lại những hoạt-động cùng chiến-công trên sông nước hồi xưa. Cuộc thi đua rất vui và các khách trẩy-hội rất thích-thú.

Hình -Đua thuyền trên sông

Rối nước

ít có hình-thức trình-diễn nghệ-thuật nào ở Việt-Nam mà lại gắn-liền với thiên-nhiên, với đời sống, với các sinh-hoạt trên sông nước cho bằng Rối Nước ở thôn quê nước ta.

Các trò diễn được trình-bày trên một sân khấu đặc-biệt chỉ thấy ở Việt-Nam, đó là mặt nước của sông, hồ hay n_ tai ao làng. Có lẽ rối nước đã khởi-sự từ thời thượng-cổ. Sử sách tuy chép lại nhưng hơi trễ: vào thời Tiền-Lê (980-1009), triều-đình làm lễ mừng sinh-nhật vua Lê-Đại-Hành, cho tạo-dựng núi giả ba ngọn ở giữa sông với các cảnh "chim bay, thú chạy, tiên-nữ múa... Có các ca công, nhạc công ngồi trên đó ca hát, chơi đàn...

Rối nước khá phong-phú, mỗi nơi, mỗi phường trình-diễn mỗi khác. Các hoạt-động nghề nghiệp: Ngư, Tiều, Canh, Độc; các sinh-hoạt văn-hoá: đua thuyền, đô-vật, đua leo thang, đánh kiếm, đua ngựa...; trích đoạn các tích chèo, tuồng cổ; diễn-tích lịch-sử như Hai Bà Trưng, Lê-Lợi, Bà Triệu, Trần-Hưng-Đạo, thủy-chiến Bạch-Đằng... Nhân-vật quen thuộc của Rối Nước truyền-thống là chú Tếu. Nhân-vật hóm hỉnh, thông-minh này là hình-ảnh tiêu-biểu của người dân quê Việt-Nam thường đảm-nhiệm vai trò giáo-đầu và kết-thúc buổi diễn. Sự kết hợp của tài điều-khiển những con rối nước chạy, nhẩy, múa may trình-diễn trên mặt nước phối-hợp với âm-nhạc, pháo hoa, lửa đuốc... được phản-quang trên mặt nước làm tăng thêm vẻ lộng-lẫy và sức hấp-dẫn.

Múa rối nước đã được mang đi trình-diễn ở Tây-phương. Loại sân-khấu cổ-truyền này đã chinh-phục công-chúng Pháp, italia ... Nhật-báo Paris Quotidien viết: "Đây là một sản-phẩm đặc-biệt của một đất nước vùng nhiệt-đới, khí-hậu nóng và ẩm, có rất nhiều sông ngòi, hồ ao ..." (Lịch Văn-hoá Việt-Nam, Sài-Gòn, 1988: 433.)

Múa rối có nhiều hình-thức và là đặc-thù của toàn vùng Đông-Nam-Á tuy vậy hiện nay chỉ ở Việt-Nam, người ta mới còn thấy rối nước. Điểm này song-hành với Trống-Đồng cùng nhiều chứng tích ghe thuyền chứng-minh rằng xứ ta chính là một trong những trung-tâm hàng-hải nguyên-thủy của nhân-loại.

Hình Chú Tếu trong những cảnh rối nước.

Bắt cá

Bắt cá hay đánh cá là nghề-nghiệp lâu đời, có trước nông-lâm. Trong những ngày hội lớn, nhiều nơi ở nước ta thường tổ-chức những cuộc vui có mang hình-thức ngư-nghiệp như bắt cá trong ao, bắt trạch trong chum v.v...

Du khách ngoại-quốc rất ngạc-nhiên khi thấy rằng những lần hội hè, những cuộc thi đua có tính-chất sông hồ, cá nước, đồng ruộng tương-tự như vậy lôi cuốn dân chúng tham-gia, dự-khán thật đông-đảo. Khởi-sự từ những ngày khai-nguyên dân-tộc, truyền-thống hàng-hải, ngư-nghiệp cùng nông-nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức đồng-bào ta.

Hình -Cảnh bắt cá

11 - Truyền-thống và Truyền-thuyết cùng Cổ Tích

Khi nói tới các truyền-thuyết dân-tộc, người ta không thể lãng quên mà không đề-cập tới những truyền-thuyết liên-hệ đến hàng-hải. Người Việt-Nam kể nhiều truyện rất cổ xưa cho con cháu nghe để lưu-truyền lại cho đời sau. Các truyền-thuyết xưa nhất của dân-tộc đều là những truyện cổ-tích mà nội-dung có gốc rễ sâu đậm về hàng-hải. Xin lược-kê một số nhỏ như sau:

- Dân ta khởi đi từ Động-Đình-Hồ, dòng dõi Long-Quân với các vua Kinh-Dương-Vương, Lạc-Long-Quân.

- Bọc trăm trứng sinh trăm con: 50 con lên núi, 50 con xuống biển.

- Người Văn-Lang làm nghề chài lưới, vua bắt dân lấy chàm vẽ mình để thuồng luồng tưởng rằng đồng-loại mà không làm hại.

- Thuyền của dân ta vẽ hai con mắt, có ý để cho các thủy-quái ở sông, ở bể không quấy-nhiễu đến.

- Truyện Thủy-tinh đánh nhau với Sơn-Tinh...

Mở đầu cuốn sách "The Birth of VietNam" (University of California Press, 1983), Keith Weller Taylor viết rằng những truyền-thống đầu tiên của nước ta liên-hệ tới một nền văn-hoá hàng-hải. Taylor trích-dẫn từ cuốn sách Lĩnh-Nam Trích-quái kể lại những truyền-thuyết về những vua lập-quốc Việt-Nam là truyền-nhân của giống Rồng, gốc gác từ biển cả.

Khi bàn chuyện "Từ Huyền-tích đến Lịch-sử", nhà sử-học Trần-Quốc-Vượng đã chú-ý nhiều đến sự phân-tích nhân-vật huyền-thoại Lạc-Long-Quân. Ngoài việc đồng-ý với nhà "Huyền-thoại-học tài-danh Cao-Huy-Đỉnh" cùng gọi nhân-vật này là "Bố Rồng Lạc hay Vua Rồng Lạc", ông Trần còn phát-biểu một ý-tưởng mới như sau: "Theo ý tôi, Lạc-Long-Quân là vị anh-hùng văn-hoá lớn nhất của Thần-thoại Việt-Nam, từ biển tới, từ sông lên, diệt "Ngư-tinh", "Mộc-tinh". "Hồ-tinh", khai-sáng miền châu-thổ sông Hồng. Lạc-Long-Quân cũng là vị anh-hùng văn-hoá đầu tiên chống sự xâm-lấn của phương Bắc (Đế-Lai), bảo hộ lãnh-thổ riêng cho con cháu dựng nước..." (Trong Cõi - Những ý kiến về lịch-sử, truyền thống và hiện trạng dân tộc của một sử gia trong nước, Garden Grove, CA, 1993.)

Nhìn lại cội-nguồn văn-hoá Việt-Nam, nhà Địa-lý-học Pháp Yves Lacoste đã có ý gắn "địa-lý" nước ta cùng với sự ra đời của những truyền-thuyết dân-tộc: "Đặc điểm lớn nhất của những truyền-thuyết ấy (Lạc-Long-Quân và Âu-Cơ, Sơn-tinh Thủy-tinh) là những mối quan-hệ chặt chẽ giữa núi rừng và đồng bằng, ít nhiều nửa cạn, nửa nước". (Lịch Văn Hoá Việt Nam, Sài Gòn, 1988: 442.)

Hình - Trận chiến Sơn-tinh, Thủy-tinh

N_ cả truyền-thuyết nguồn-gốc trống đồng cũng liên-hệ đến hàng-hải. Ông Bình-Nguyên-Lộc cho chúng ta biết như sau: Người Mường kể rằng vua Yịt (Vua Việt- Hùng-Vương) có hai người con gái cô Ngân và cô Nga.Hai cô đi tắm thấy một trống đồng thau trôi trên mặt biển rồi tắp vào bờ. Hai cô cho vua cha hay tin đó, và vua Yịt cho người mang trống về. Nhà vua cho gọi thợ ở từ phương Đông, từ phương Tây, từ phương Bắc và từ phương Nam, đưa đồng, đưa thau, đưa khuôn, bảo họ đúc 1960 cái trống rồi phát cho các lãnh chúa mỗi người một cái. (Nguồn gốc Mã-Lai của Dân-tộc Việt-Nam, Bách Bộc Sài-gòn, xuất-bản 1971, trang 745.)

Xuất-xứ Trống Đồng như vậy rõ rệt có liên-hệ tới nghề hàng-hải. Theo ông Bình-Nguyên-Lộc, trống đồng đã do những dân qua lại trên biển cả chuyên chở tới. Sau khi thợ đúc từ bốn phương trở về nỗ-lực làm việc, mấy ngàn trống đồng được phân-phối cho các lãnh-chúa. ít nhất hàng trăm, có thể hàng ngàn chiếc đã theo các lãnh-chúa đó vượt biển đi khắp nơi duyên-hải hay hải-đảo xa xăm ngoài đại-dương như khoa khảo-cổ đã tìm thấy ngày nay.

Truyền-thuyết về nguồn gốc Đinh-Bộ-Lĩnh, vị vua đầu tiên củ a nước Đại-Cồ-Việt, tuy có vẻ hoang-đường nhưng nội-dung đề-cập đến thần sông nước với Rồng, Rái cá. Keith Taylor viết về niềm tin "Thủy Thần-quyền" của người Việt thời xưa trong bài "Authority and Legitimacy in 11 th Century Vietnam", nguyên văn như sau: "The stories recorded about Dinh Bo Linh's boyhood stress supernatural intervention The young Bộ Lĩnh is saved from death by the sudden appearance of two dragons. His father is thought to have been an otter, linking him with aquatic powers and the belief, firmly established in Vietnamese mythology, that sovereign authority derives from the watery realm - His rise to power follows burial of his father's bones in a geomantically potent spot." (Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, edited by David G. Marr and A. C. Milner, institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1986, p. .)

Rồng, Rùa, Sông, Hồ, Nước... xuất-hiện nhiều lần và được ghi chép trong sử sách nước ta.

Năm 1010, Lý-Công-Uấn rời đô từ Hoa-Lư ra Đại-La. Khi thuyền đến nơi, tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra ở thuyền ngự (Ngô-Sĩ-Liên, Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư, Bản dịch của Cao-Huy-Du, Hà-Nội, 197, trang 191). Nhà vua đổi tên Đại-La thành Thăng-Long và xuống chiếu nói rằng: "Đó là nơi trung-tâm Nước ta, đúng là thế Rồng cuộn, Hổ ngồi... có địa-thế núi sông sau trước,,,"

Sử ta chép Thần Kim-Quy hay Rùa Vàng phù-trợ xây thành, diệt ma quỷ, bảo vệ Âu-Lạc. (Understanding Vietnam, University of California Press, Berkeley and Los Angeles, 1993, p. 8.) Thần Rùa được thờ tại nhiều nơi, nổi tiếng linh-thiêng nhất tại hồ Hoàn-Kiếm.

12 - Truyền-thống Nước và Tín-ngưỡng

Khi mọi sinh-hoạt đời sống được bao trùm trong môi-trường nước, tín-ngưỡng của dân ta liên-hệ tới Nước.

Tam toà Thánh mẫu

Bên trời Tây, tại Địa-trung-Hải, Hy-Lạp là một trong những quốc-gia có truyền-thống hàng-hải lâu đời nhất. Thần-thoại Hy-Lạp nói đến ba ngôi về Thiên-thần, Địa-thần và Thủy-thần.

— Việt-Nam, hệ-thống nữ-thần chiếm địa-vị quan-trọng. Bà Trời hay Đức Mẫu Thiên-Phủ đứng đầu Tam-tòa Thánh-Mẫu. Hai vùng Đất và Nước thuộc phạm-vi Mẫu Thượng-Ngàn và Mẫu Thủy-Phủ.

Cảm-quan vũ-trụ của Tổ-tiên người Việt chúng ta mang những nét đậm màu sông nước biển cả. Mẫu Thượng-Ngàn chỉ trách-nhiệm vùng rừng núi hay Vùng Cao. Trong khi đó, Mẫu Thủy-Phủ, thường được gọi là Đức Mẫu Thoải, có khu-vực trách-nhiệm rộng lớn hơn nhiều. Vị nữ-thần này cai-quản toàn-thể Vùng Thấp, bao gồm từ đồng-bằng với sông hồ ra đến ngoài biển cả mênh mông. (Việt-Nam- Truyện Cổ với Triết lý Tình thương, Bùi Văn Nguyên, Hà-Nội, 1991.)

Tác-giả Bùi Văn Nguyên cũng cho biết thêm nhiều vị thần Việt-Nam liên-hệ đến nước và biển. Sau đây là các đoạn văn Ông đề-cập đến các nữ-thần "biển":

Sau khi Phật-giáo ảnh-hưởng vào xứ ta, Phật-bà Quán-Thế-Âm được các thủy-thủ và thương-nhân Việt-Nam, cũng như „n-Độ từ trước đó, coi như vị thần cứu mạng ngoài biển khơi. Cũng vậy, Đức Nam-Hải Quán-Thế-Âm, một biệt-danh khác của Ngài, có phạm-vi quản-trị chủ-yếu của họ Việt-Thường xưa, trải dài ven Biển Đông từ hồ Động-Đình đến đỉnh Thứu-Lĩnh trên dãy Ngàn Hống.

Đền thờ Rồng, Rắn khắp nơi.

Vì ảnh-hưởng của sinh-hoạt đi vào tín-ngưỡng, dân ta lập đền thờ Rồng Rắn khắp nơi, đồng-hoá thủy-quái với anh-hùng dân-tộc. Giáo-sư Trần-Quốc-Vượng nhận ra rằng:

"Dọc sông ngòi miền Bắc - sông con, sông cái - đâu chẳng có đền thờ rắn hay rồng (cho dù với xu-hướng "lịch sử-hoá", rắn rồng đã hoá thành tướng Hùng-Vương, tướng bà Trưng, tướng Triệu Việt Vương...). Và bao quanh những đền thờ đó là hội nước, hội đua thuyền cầu mưa. Rắn rồng, thuồng luồng, cá sấu... là biểu-tượng của Nước, của Thần Nước, của Mưa Dông." (Trong Cõi, Những ý kiến về Lịch sử, Truyền thống và Hiện trạng Dân tộc của một Sử gia trong nước, Trần-Quốc-Vượng, Hoa-Kỳ, 1993: 13.)

13 - Sinh-hoạt thôn-xóm và đô-thị Việt-Nam

Một trong những nét rõ rệt của nền "văn-minh nước" tìm thấy ở Việt-Nam là tổ-chức làng xóm, đô-thị ven bờ nước.

Từ đời thượng-cổ, những xóm làng Việt-Nam đều nằm dọc theo hai bờ sông, kinh, rạch. Trong đồng-bằng sông Hồng, sông Mã; các làng có lũy tre xanh vây quanh nhưng vẫn mở xuống bến nước ven sông. Phần lớn các đô-thị nước ta đã đi từ sự phát-triển vượt bực của những làng xã có đường thông-thương tiện-lợi ra biển.

Làng nổi tiếng nhất trong ngành khảo-cổ là Đông-Sơn. Làng này nằm bên bờ sông Mã và cận kề Biển Đông, ngày xưa là một bến cảng sầm uất. Từ vùng Đông-Sơn / Lạch Trường, nhiều Tàu thuyền Lạc-Việt đã khởi-sự những chuyến hải-hành vượt Biển Đông, đi thật xa, hàng trăm hàng ngàn hải-lý.

Làng thủy-cơ

Một loại làng đặc-biệt của Việt-Nam là làng thủy-cơ. Làng này không giống các làng trên cạn mà được thành-lập dưới nước. Những làng này gồm nhiều nhà nổi trên mặt sông hay hồ. Làng thủy-cơ còn gọi là làng Vạn, làng Chài. (Miền Bắc Khai Nguyên, Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh, 1969, trang 6.) Dân-cư các làng này làm nghề chài lưới hay sinh sống bằng các nghề-nghiệp khác liên-hệ đến sông nước. — miền Nam, một làng nổi tương-tự được thấy gần Tân-Phú và quốc-lộ 20.

Hai ông Cửu-Long-Giang và Toan-Ánh đã trích-dẫn tài-liệu của học-giả Đào-duy-Anh viết về hệ-thống hành-chấnh của các làng thủy-cơ trong tiền-bán thế-kỷ 20 trở về trước như sau:

Theo nguyên-lý thì làng chài nào cũng phụ-thuộc với một xã thôn trên cạn. (Trong trường-hợp này, làng chài chỉ là một thôn của làng khác.)

Thực ra làng chài vốn là một làng riêng mà nhà nước chỉ bắt theo về một xã thôn trên đất để tiện việc thu thuế cho nên những dân thủy-cơ tuy phải đóng sưu-thuế cho Lý-trưởng mà vẫn không có liên-lạc gì với xã thôn ấy cả. Làng Thủy-cơ thường là một đơn-vị hành-chánh độc-lập có đủ tổ-chức như một xã thôn, hoặc thống-thuộc vào một tổng với các làng ở cạn hoặc nhiều làng họp thành một tổng thủy-cơ riêng. (Việt-Nam Văn-hoá Sử-cương, Đào-duy-Anh, NXB Bốn-Phương, Saigòn, 1961.)

Làng thủy-cơ Việt-Nam mang tính-chất lưu-động và có nhiều nét đặc-thù như các tổ-chức thôn-xóm của Thuyền-nhân (Boat People) bên Trung-Hoa hay các bộ-lạc Hải-du (Sea Nomads) thuộc các đảo nằm về phía Nam của Biển Đông.,

Đô-thị cạnh bờ nước

Theo Giáo-sư Trần-Quốc-Vượng, tính-chất bán-đảo của Việt-Nam nổi bật nhất Đông-Nam-Á. Ông mô-tả các đô-thị cổ Việt-Nam đều có một đặc-điểm chung là nằm giữa những tuyến đường thủy:

- Việt-Trì là đô-thị cổ nhất Việt-Nam, mà vùng chung quanh đó được gọi là Đất Tổ, xuất-hiện vào thế-kỷ thứ VII trước công-nguyên. Việt-Trì, thành-phố nằm trên ngã ba các con sông Hồng-Hà, Đà-Giang và Lô-Giang, n_ trong thời-đại các vua Hùng đã trở thành đô-thị dịch-trạm với hệ-thống thuyền mảng dưới sông và hệ-thống voi - gùi trên đường bộ xuyên sơn.

- Cổ-Loa, trung-tâm của nước Âu-Lạc, nằm giữa vùng châu-thổ, là nơi hội-tụ của nhiếu đường sông rạch, vị-trí có nhiều mặt ưu- thế hơn Việt-Trì, nhất là gần biển hơn.

- Sau cuộc xâm-lược của Hán-Vũ-Đế, các cảng Luy-Lâu rồi Long-Biên ở hạ-lưu sông Hồng và Lạch-Trường ở hạ-lưu sông Mã đã thành-hình. Các đô-thị này đều gần biển và là những cảng thị sầm uất và lớn lao vào hạng nhất nhì trên biểnĐông.

-Hà-Nội, đi từ một Thăng-Long truyền-thống với mạng lưới cơ-bản là đường thủy, có phương-tiện giao-thông cơ-bản là thuyền. Với lưới sông thông-thương với nhau, giao-thông thủy rất thuận-lợi. Thuyền từ sông Đáy vào sông Nhuệ rồi "lên Kinh" bằng sông Tô hoặc ngược lại từ quân-cảng Đông-Bộ-Đầu và thương-cảng ở cửa sông Tô trên sông Nhị, qua sông Tô, sang sông Nhuệ rồi xuống sông Đáy mà ra biển vào Nam, hay xuôi sông Đuống, sông Dâu xuống Lục-Đầu-Giang mà ra Hải Đông, Hạ Long biển Bắc...

Ta có thể gọi Hà Nội là thành-phố sông. Nói đúng hơn, Hà Nội cổ là thành-phố sông hồ: Hồ Tây, Hồ Gươm, Thuyền-Quang, Bẩy Mẫu v.v... (Trong Cõi, trang 76-102.)

Kinh-đô Thăng-Long là trung-tâm thương-mại quốc-tế lớn nhất của Việt-Nam và cũng của Đông-Nam-Á suốt thời trung-cổ. Dân-số các đô-thị loại này tăng lên rất nhiều khi giới thương buôn và hành thủy ngoại-quốc ghé Tàu cặp bến, đặc-biệt tùy theo mùa gió thuận-tiện. Theo tài-liệu của Samuel Baron viết lại vào đầu thế-kỷ 18, đường phố Thăng-Long rất đông đảo trong những phiên chợ vào các ngày mùng một và ngày dằm âm-lịch. Một số du-khách ngoại-quốc đã nghĩ rằng kinh-đô nước Việt đông người nhất thế-giới vào những ngày này. Muốn đi 100 bước cũng phải tốn mất nửa giờ. (Bài "A Description of the Kingdom of Tonqeen", trong sách "A Collection of Voyages and Travels", ed. A. and W. Churchill, London, 1703-32, iV. 3. Abbe Richard, "Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin", Paris, 1778, 1. 28.)

Giáo-sư Peter Bellwood nhận xét về phát-triển hải-thương của người Việt-Nam, ước-lượng dân-cư kinh-đô nước ta vượt con số 100,000 người trong các thế-kỷ 15 đến 18, sau khi nhà Lê mở rộng tường thành tới 10km đường kính. ("The Cambridge History of Southeast Asia", Vol. 1- From Early times to C 1800-, edited by Nicolas Tarling, Cambridge University Press, 1992: 472-473.)

Trước Thăng-Long, thủ-đô nước ta đã đóng tại Hoa-Lư. Khi quốc-gia vừa tái-lập được nền tự-chủ, nhà Đinh đã đóng đô n_ trên bờ con sông Hoàng-Long-Giang, từ nơi này chạy ra Biển Đông chỉ chừng hơn mười hải-lý. Theo sách Đại-Việt Sử-ký Toàn-thư của Sử-gia Ngô-Sĩ-Liên, thương-thuyền thuộc nhiều nước cặp bến Hoa-Lư buôn bán tấp nập. Hải-thương tiếp-tục bành trướng đúng như truyền-thống ngàn đời của dân tộc

14 - Nước ta, hình ảnh con rồng vươn dài ôm lấy biển

Quan-sát bản-đồ thế-giới trên phần lục-địa, người ta không thể tìm thấy một quốc-gia nào được sở-hữu một vùng bờ biển quan-trọng về mọi mặt, không những dài mà lại lắm tài-nguyên như Việt-Nam. Theo giáo-sư Joseph R. Morgan của đại-học UC Berkley và luật-sư Mark J. Valencia của Viện Nghiên-Cứu Đông-Tây ở Hawaii, Việt-Nam có tới 2,828 hải-lý (tức 5,237 km) bờ biển (Atlas for Marine Policy in Southern Asian Seas, edited by Joseph R. Morgan & Mark J. Valencia, University of California Press, 1983.) Tỷ-lệ bờ biển nước ta so với diện-tích lãnh-thổ cao hơn hầu hết các quốc-gia khác trên thế-giới.

Tâm-hồn và sinh-hoạt Việt-Nam gắn liền với biển. Joseph Buttinger ước-lượng rằng đại đa-số người Việt-Nam sống sát với biển trong vòng 50 hải-lý. (Vietnam: A Political History, Nxb Frederick A. Praeder, Publishers, New York-Washington, 1968, trang 15.)

Như quá-khứ đã chứng-minh, cả trong hiện-tại lẫn tương-lai Việt-Nam sẽ không thể nào xa cách với biển cả. Trong những giai-đoạn sinh-tử hay tồn-vong của đất ngước, người Việt chúng ta cũng cứ bám lấy biển. Một trong những biểu-hiện dễ thấy nhất là trên đường mở nước, tiền-nhân chúng đã lần từng bước men theo bờ biển để tiến tới. Cuộc Nam-Tiến chính là biểu-hiện của một con rồng vươn dài ôm lấy Biển Đông.

15 - Tinh-thần thượng-võ

Truyền-thống hàng-hải hun-đúc cho người Việt-Nam nhiều đức-tính. Trong hàng ngũ, ngưới lính Việt giữ truyền-thống, tôn-trọng kỷ-luật như một thành-viên của thủy-thủ-đoàn. Khi đối-diện địch-quân, họ can-đảm, nhanh trí khôn và biết chụp lấy thời cơ như người đi biển đối-diện phong ba bão-táp ngoài khơi. Các du-khách đến thăm xứ ta xưa nay đều khen ngợi rằng dân ta rất hiền-hoà hiếu khách. Tuy vậy khi hồn nước kêu gọi, như một phép lạ, họ lập tức trở nên người lính can-đảm và kỷ-luật trong quân-ngũ.

D. R. SarDesai đã giảỉ-thích lý lẽ tại sao dân Việt lại đặc-biệt cương-quyết, kiên-cường và cứng cỏi hơn các dân-tộc khác. Có hai lý-do (1) xã-hội ta phải luôn-luôn chống chọi với thiên-nhiên và (2) đối đầu với cường-địch phương Bắc. (Viet Nam & The Struggle for National identity, D. R. SarDesai, Westview Press Colorado, 1992, p. 9-11.)

Sống trong môi-trường bao quanh bởi nước, chống với thiên-tai vốn là sự tranh đấu cam go. Để sóng còn, người Việt ta luôn luôn kết-hợp lại trong tập-thể làng xã hay quốc-gia mà thường được gọi một cách thân-ái là nhà nước.

Theo Joseph Buttinger, nhiều yếu tố kết-hợp lại đã tạo thành những người Việt-Nam không tinh-thần vị-kỷ cá-nhân (Vietnam : A Political History, Frederick A. Praeder, Publishers, New York- Washington, 1968, p.15-16.). Tập-thể lớn như Quân-đội hay nhỏ như nhóm Tuần-đinh cũng là những khối đồng-nhất trong khi chiến-đấu.

Ông Cao-Thế-Dung đã viết cả một cuốn sách để đề cao tinh-thần thượng-võ của dân ta, cuốn "Việt Nam Binh Sử Võ Đạo", Arizona, 1993, trang 298.) Trong đó Ông đã đặc-biệt đề cao truyền-thống sông nước của đồng bào ta suốt dòng lịch-sử.

Theo linh-mục Cristophoro Borri ngoài tính hiếu-khách, người Việt-Nam vượt trội người Trung-Hoa về sự nhanh trí khôn và can-đảm. (Vietnam's Will to Live - Resistance to Foreign Aggression from Early Times Through the Nine_th Century by Helen B. Lamb, Monthly Review Press, New York and London, 1972, p. 9-10.) (Xem "Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: Cristophoro Borri" trong Bulletin des Amis du Vieux Hué, Juillet-Decembre, 1931.)

Cha Alexandre de Rhodes, như ta đã biết rất cảm-phục dân ta trong mọi sinh-hoạt, cũng đặc-biệt khen ngợi người lính Việt giỏi hơn người lính Tàu rất nhiều, (Rhode of Việt Nam, The Travels and Missions of Father Alexander de Rhodes in China and Other Kingdoms of the Orient, translated by Solange Hertz, The Newman Press, Wesminster, Mariland, 1966, trang 44.) (Alexendre de Rhodes, Voyages et Mission, Lille, 1884, pp. 66-67.)

16 - Sự Hiện-hữu của Hàng-hải trong dòng sinh-mạng của Dân-tộc

Người Việt đi biển khi phần lớn nhân-loại còn sống man-dã trong hầm, trong hang. Kỹ-thuật kiến-trúc Tàu thuyền và kiến-thức hải-hành của chúng ta tiến-bộ tới mức độ đủ khả-năng vượt biển, đi truyền-bá ảnh-hưởng văn-minh Việt-tộc lan rộng khắp Thái-Bình-Dương và „n-Độ-Dương trong lúc các nước giầu mạnh hôm nay còn chưa lập-quốc.

Bàn về đức-tính của các sắc dân Bách-Việt (Yủeh), mà ông gọi là "dân biển cả", Stan Steiner đã nức nở khen ngợi như sau : "... Những truyền-thống hải-hành tạo nên cho dân Việt tinh-thần tư-tin và độc-lập. Họ chiến-đấu chống ngoại-xâm cùng với một xung-lực (dũng-mãnh) như họ đã dùng để chiến-đấu chống bão-tố ngoài biển khơi." (Fusang, Chinese Who Build America, New York, 1979: 71.)

Một cổ-thư Trung-Hoa, cuốn Việt-Tuyệt-Thư đã đề-cập đến đến sự cam go của người Tàu trong nỗ-lực ép đặt luật-lệ thống-trị lên các dân miền Nam thời Xuân Thu. Hình ảnh của dân Việt được mô-tả là một giống dân hàng-hải với các sinh-hoạt thật hào-hùng như tính-tình khinh bạc, xem thường cái chết, dong thuyền vượt biển, dùng đường thủy tấn-công chớp nhoáng quân thù ...: "Người Việt bản-chất thích nhàn-hạ (?!), ghét luật-lệ. Họ viễn-hành đến những nơi xa xăm bằng đường thủy, dùng thuyền như ta (ý nói người Tàu) dùng xe, dùng chèo như ta dùng ngựa. Khi đến, họ đi như gió thổi tới; khi họ rút lui thì ta khó mà rượt đuổi theo ."

Cùng một ý-tưởng đó, nhà quân-sử Phạm-Văn-Sơn đã viết rằng: Người Hán có ý ghê-sợ tinh-thần quật-cường của Việt-tộc, luôn luôn trống trả kịch-liệt các cuộc xâm-lăng của họ (Việt-sử Toàn-thư, Sài-gòn 1960: 24.)

Hình Thuyền là xe, mái chèo là ngựa .

Sau này, tuy người Tàu xâm-chiếm được lãnh-thổ nước ta nhưng họ đã không thể làm tiêu-tan được truyền-thống hàng-hải của dân-tộc Việt. Cũng trong sách Nanhai Trade được dẫn-chứng nhiều lần trong sách này, học-giả Wang Gungwu, tuy có thể có nguồn-gốc liên-hệ Trung-Hoa, nhưng lại rất khách-quan, đã mạnh mẽ lên tiếng bảo-vệ công-lý cho những người Việt thời đó như sau:

"... Thực-sự phần cốt-cán trong những hoạt-động hàng-hải dọc theo bờ biển Trung-Hoa đều là của người Việt. Vì hầu hết dân-cư miền Nam chưa bị Tàu-hoá ... Vậy thật là lầm lẫn nếu gọi những người Việt hành-nghề thủy-thủ và kiến-trúc Tàu thuyền trong giai-đoạn này là người Trung-quốc với chỉ một lý-do là lãnh-thổ của họ bị đặt dưới sự cai-trị của người Tàu". (The Nanhai Trade - A Study of the Early History of the Chinese Trade in the South China Sea, Wang Gungwu, Journal of the Malayan Branch Royal Asiatic Society, Kuala Lumpur 1959, trang 23.)

Qua nhiều giai-đoạn lập-quốc tiếp nối vong-quốc, người dân Việt đã chiến-đấu, phản-kháng, chống đối, chạy giặc, tị-nạn vì ngoại xâm, đào-thoát vì bị truy-diệt, tan tác khắp nơi... Ngoài các đoàn thuyền xuôi Nam, không thiếu những toán chạy qua ông hay đi về Bắc. Những dân di-tản theo các ngả này, nhờ đại-hải-lưu và gió mùa đưa đẩy, có nhiều cơ-hội giạt sang Mỹ-Châu. Danh-từ "Thuyền-Nhân" xuất-hiện đã nhiều ngàn năm xưa!

Hình - Nhiều đợt di-tản thuyền-nhân chạy tán-loạn khi giặc tới.

Vào thời Bắc-thuộc, trong khi đồng-bào trên đất liền bị lầm-than dưới ách đô-hộ của người Tàu, một số người Việt ngang tàng, không chịu khuất-phục, sinh sống trên Tàu thuyền, nay đây mai đó. Một khi đã ra khơi, giữa trời và nước, không còn áp-lực của "thiên-triều" Trung-quốc, người thủy-thủ Việt vẫy vùng khắp mặt biển khơi, vẫn giữ gìn nền văn-hoá nguyên-thủy. Những tinh-thần, truyền-thống đó chắc hẳn đó đã góp công trong việc tái-lập nền tự-chủ và xây-dựng quốc-gia chúng ta sau này.

17 - Truyền-thống không thể quên lãng

Các sách (cổ Trung-Hoa) chép: người Việt rất sở-trường về thủy-chiến. Điều này làm ta nhận thấy dân-tộc ta quẩ có tài chiến-đấu đặc-biệt về mặt thủy trong các cuộc xung-đột với Trung-Quốc từ 20 thế-kỷ nay. (Việt-sử Toàn-thư, Phạm-Văn-Sơn, Sài-gòn 1960, trang 23)

Ngoại-xâm đã không thể áp đặt các sinh-hoạt Trung-nguyên và làm mất truyền-thống hàng-hải độc-đáo của dân-tộc. Tuy vậy mà có lẽ chính chúng ta đã dần dần tự làm suy giảm truyền-thống cao-quý đó trong thời-gian gần một ngàn năm trở lại đây.

Nếu cứ tiếp-tục sự-nghiệp hàng-hải của tiền-nhân, Vịệt-sử hẳn đã đổi dòng. nước Việt ta chẳng những không bị tái đô-hộ, mà chắc chắn đã tiến-bộ và giầu có hơn hiện-tại rất nhiều. Dân ta đáng lý ra, được thêm niềm kiêu-hãnh trước thế-giới, năm châu.

Bản-đồ thế-giới hôm nay không còn ghi "Bán-đảo Vàng", địa-danh huy-hoàng "huyền-thoại Cattigara" cũng đã biến mất trong hải-sử kim-thời, nhưng quan-trọng hơn nhiều là quá-khứ bay đi, không còn ghi nhiều dấu-tích ngày xưa. Thật nguy-hiểm cho dân Việt, mỗi khi nói tới hải-hành, viễn-dương, đóng Tàu vượt biển, xông-pha bão-tố...; chúng ta cảm thấy xa lạ, như không một chút liên-hệ nào.

Chưa có sử-gia nào đưa ra quan-niệm là nước ta vẫn tồn-tại sau hàng ngàn năm Bắc-thuộc vì nhờ vào truyền-thống hàng-hải lâu đời của dân-tộc, nhưng không một ai trong chúng ta có thể phủ-nhận được một sự thật hiển-nhiên rằng đứng ra ngoài hàng trăm giống dân bị Tàu đồng-hoá hay tiêu-diệt, chỉ còn mỗi một giống dân hàng-hải tiền-tiến là Việt sống sót mà thôi.

Việt-tộc vốn không phải được khai-sinh và nuôi-dưỡng trong sự-nghiệp hải-hồ để rồi ... bị "chết" dần trên cạn. Hàng-hải không thể nào là truyền-thống bị lãng quên. (Xin xem thêm phần Chú-thích 2.)

Vũ Hữu San

---

Chú-thích 1

Hình ảnh A. Gruvel trình-bày về những cách thức đánh cá có từ thời tiền-sử tại Việt-Nam trong sách "Pêche dans la Préhistoire dans l’ Antiquité et chez les peuples primitifs", Paris, 1928):

Pl, VIII Fig. 16 - Tonkin Bac Kan - Barrage et pièges à poissons

Fig 17 - Tonkin - Pêche à l'aide du "Péo"

Fig 18 - Annam - Carrelets sur sampans, en action (Rivière des Perfume)

Fig 23 - Pêcheur armé du Giậm (Tonkin) (Voir A. Gruvel: L’Indo-Chine. Ses richesses marines et fluviales, Paris 1925 (p. 166 et suivantes.)

Fig. 31 - Tonkin. Radeaux de bambou pour la pêche à l’épervier

Fig 32 - Tonkin. Langson. Radeau porteur d’un grand carrelet

Fig. 51 - Village de pêcheur sur la bord de la mer (Tonkin)

Fig. 52 - Sampan annamite en baie d’ Along (Tonkin)

Chú-thích 2.

Mười lăm năm trước đây, khi bắt đầu cho đăng-tải loạt bài này trên các báo Cựu-Quân-Nhân, chúng tôi tự hỏi : có vẻ gì "đao to búa lớn" chăng?

Gần dây, suy xét lại, chúng tôi so sánh với lời Học-giả Phạm-Quỳnh nói về "Kim Vân Kiều" như một sự "tồn-tại Vịệt-Nam" nên mạnh bạo hơn và cho phổ-biến lại. Nếu có sơ sót, xin quý-vị cho biết để chúng tôi sửa chữa lại cho chỉnh hơn. Muôn vàn cảm tạ.


Ca Dao Tục Ngữ : http://www.cadaotucngu.com/Phorum/

© Hà PhÆ°Æ¡ng Hoài

Close Window