Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Quê Ta
 Miền Trung
 Khánh Hòa
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author  Topic Next Topic  

HU1B
Moderator

USA
119 Posts

Posted - 02/06/2006 :  20:59:10  Show Profile  Reply with Quote
Ninh Hòa


Sơ Lược:



Quả thật người Ninh Hòa hiền hòa, trực tính và thông minh, cũng như Đất Ninh Hòa là đất thiêng, theo nhận xét của nhiều người. Thiết nghĩ các câu ca dao tục ngữ

"Cọp Khánh Hòa ma Đồng Cháy",
"Gái Ninh Hòa ông già Phú Yên",
"Ninh Hòa có núi có non.
Có sông có biển, có hòn Vọng Phu.
Có Hòn Khói có Hòn Dù.
Có Lăng Bà Vú có Tiên Du Hòn Hèo.
Chùa Kỳ vắng vẻ trăng treo.
Kỳ lân dạo xóm bắt heo bắt gà.
Từ khi giặc nổi can qua.
Xa em, hòn Giữ, hòn Bà cũng xa. "

cũng nói lên được phần nào tính cách thiêng liêng kỳ bí ấy. Nếu Nha Trang được các nhà phong thủy xem là một đại địa cuộc phát đạt phú quý (vì có: "Tứ thủy triều quy, tứ thú tụ" nghĩa là bốn mặt có nước bao bọc, bên trong có bốn ngọn núi hình thú quy tụ (rồng, voi, dơi , rùa), thì Ninh Hòa cũng có: "Sơn thành trấn hải, long ngọa yểm sơn, Tam sơn tứ trấn" (núi như trường thành trấn giữ mặt biển, sông hồ uốn khúc như rồng nằm yểm trợ cho núi, ba ngọn núi án ngữ 4 mặt để gìn giữ an ninh cho Ninh Hòa là Hòn Hèo, Hòn Lớn, Hòn Vọng Phu), nhờ thế mà Ninh Hòa là một trong những nơi ít bị bão nhất ở duyên hải miền Trung. Ninh Hòa có Lòng Hồ Đá Bàn ở phía bắc, Hồ Suối Trầu ở phía tây thật là xinh đẹp, chứa một trữ lượng nước rất lớn đủ cung cấp cho toàn huyện. Ninh hòa nằm tại ngã ba của con đường huyết mạch nam, bắc và cao nguyên. Ít nơi nào có tài nguyên dồi dào phong phú hội đủ cả các mặt như Ninh Hòa từ rừng núi, sông biển, đồng bằng, ruộng muối, đầm đìa, đến thắng cảnh, di tích… chẳng thiếu một thứ gì.

Đất Ninh-Hòa xưa vốn của Chiêm Thành.

Năm 1653, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa quân vượt biên giới (núi Thạch Bi, Đá Bia, Đèo Cả) đánh Chiêm Thành, chiếm đến sông Phan Rang, đặt dinh Thái Khang gồm 2 phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh). Phủ Thái Khang chia làm 2 huyện: Quãng Phước và Tân Định (Quãng Phước thuộc Vạn Ninh còn Tân Định thuộc phần đất Ninh Hòa bây giờ?).

Năm 1690 phủ Thái Khang đổi thành phủ Bình Khang.

Năm 1742 phủ Diên Ninh đổi thành phủ Diên Khánh.

Năm 1744 Chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt dinh Bình Khang gồm phủ Bình Khang và Phủ Diên Khánh.

Năm 1773. Tây Sơn chiếm dinh Bình Khang

Năm 1793, Nguyễn Ánh chiếm lại Bình Khang và cho xây thành Diên Khánh.

Năm 1803, dinh Binh Khang đổi thành dinh Binh Hòa.

Năm 1808, dinh Bình Hòa đổi thành trấn Bình Hòa.

Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Bình Hòa thành tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1901, tỉnh Khánh Hòa có 2 phủ và 4 huyện:

Phủ Diên Khánh có 2 huyện Phước Điền và Vĩnh Xương

Phủ Ninh Hòa có 2 huyện Quãng Phước và Tân Định.

Tỉnh lỵ đặt tại Thành Diên Khánh, đến năm 1945, Nha Trang chính thức là tỉnh lỵ.

Tôi muốn ghi lại một vài sử liệu để chúng ta biết được lịch sử Ninh Hòa tính từ năm thành lập (1653) đến nay là 350 năm. Theo tôi, tên cũ Ninh-Hòa là Tân Định, Thái Khang, Bình Khang? Dinh Thái Khang (sau này đổi thành dinh Bình Khang) nằm trên bờ tả ngạn sông Dinh (địa điểm gần cầu Dinh bây giờ) có lẽ vì thế mà chữ Dinh được đặt làm tên cho con sông này và khu chợ nằm bên kia sông (hửu ngạn) cũng được gọi là chợ Dinh?

Theo sách "Sài Gòn 300 Năm Cũ" của tác giả Nguyên Hương Nguyễn Cúc, (xuất bản năm 1999), vào năm 1692, chúa Nguyễn sai cai cơ Nguyễn Hữu Cảnh làm thống binh cùng tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân đánh, bắt vua Chiêm và đổi tên phần đất còn lại của Chiêm Thành thành trấn Thuận Thành, mấy tháng sau lại đổi thành phủ Bình Thuận. "Vì có công bình định Chiêm Thành, Nguyễn Hữu Cảnh được thăng Chưởng Cơ, trấn thủ Bình Khang, sau này là quận Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa".

Năm 1699, chúa Nguyễn Phúc Chu phong Nguyễn Hữu Cảnh làm thống binh cùng 2 phó tướng Phạm Cẩm Long và Nguyễn Hữu Khánh "đem quân thủy bộ từ Dinh Bình Khang" hợp lực cùng Trần Thượng Xuyên bình định Chân Lap, tấn công chiếm được kinh đô Nam Vang… Nguyễn Hữu Cảnh là một võ tướng tài ba đức độ được phong tước hầu, được truy tặng Hiệp tán công thần, rồi Thượng đẳng công thần, rồi Khai quốc công thần, thờ ở Thái Miếu, riêng người Chân Lạp cũng lập đền thờ ông tại Nam Vang.

Qua đó chúng ta thấy từ thuở xa xưa, Ninh Hòa đã từng có những trang sử huy hoàng, đã từng có một vị quan trấn thủ tài ba đức độ, vang danh cả trong và ngoài nước, Ninh Hòa còn là một địa điểm chiến lược trọng yếu về kinh tế chính trị quân sự thời Chúa Nguyễn, đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Nam Tiến mở mang bờ cõi từ Phan Rang cho đến mủi Cà Mau.

Tất cả những điều nói trên có lẽ đã đủ để chúng ta tin rằng Ninh Hòa là một địa linh.


Hồ Văn Thinh
(Bút hiệu Vinh-Hồ)




Kính Chào
HU1B

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 03/29/2008 :  09:11:12  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
NỮ THẦN PÔ NAGAR VỚI CÂY TRẦM HƯƠNG
Ngô Văn Doanh


...Khánh Hòa là xứ trầm hương

Non cao biển rộng người thương đi về.


Không chỉ trong ca dao, các sử liệu cổ của Việt Nam cũng đã nhắc tới trầm hương của vùng đất Khánh Hòa xưa. Lê Quý Đôn (1726-1784), trong Phủ biên tạp lục (1776), đã viết: “Kỳ nam hương xuất tự đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên Khánh xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất; xuất tự Phú Yên và Quy Nhơn là thứ hai. Hương ấy là do ở ruột cây dó kết thành. Dó có ba loại: dó lưỡi trâu thì thành khổ trầm, dó niệt thì thành trầm hương, dó bầu thì thành kỳ nam hương”. Lê Quý Đôn còn cho chúng ta biết cách phân biệt giá trị của trầm hương và kỳ nam: “Trầm hương thì cứng, nặng, ít thơm, sắc nhạt, vị đắng; kỳ nam thì mềm, nhẹ, có hơi dầu, thơm mát, vị gồm đủ cay, chua, ngọt, đắng; đốt trầm hương thì khói hết xoáy rồi sau mới tan, đốt kỳ nam thì hơi khói lên thẳng mà dài…”(1) (Hai phủ Bình Khang và Diên Khánh đều là đất của tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Về sự hình thành hai phủ này, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: “Bản triều, năm Quý Tỵ thứ 5 đời Thái Tông (Nguyễn Phúc Tần) (1675), vua Chiêm Thành là Bà Bật lấn biên giới, bản triều sai cai cơ Hùng Lộc Hầu đi đánh. Người Chiêm hàng, do đấy chiếm lấy đất từ sông Phan Rang trở về phía đông đến địa giới Phú Yên, đặt 2 phủ (Thái Khang và Diên Ninh)… Năm Canh Ngọ thứ 3 (1690) đời Anh Tông, đổi phủ Thái Khang làm phủ Bình Khang; năm Nhâm Tuất thứ 4 (1742) đời Thế Tông, đổi phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh…”(2). Phủ Bình Khang khi đó gồm 2 huyện là Quảng Phúc và Tân Định; còn phủ Diên Khánh thì có 3 huyện là Phúc Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu (3). Tên Khánh Hòa được đặt năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), nhưng chỉ đến năm Thành Thái thứ 13 (1901), tỉnh Khánh Hòa mới có địa giới tương đương hai phủ Bình Khang và Diên Khánh trước đó, tức là gồm 2 phủ là Diên Khánh (tên không đổi) với 2 huyện Phúc Điền và Vĩnh Xương và phủ Ninh Hòa (Bình Khang xưa) với 2 huyện Quảng Phúc và Tân Định (4). Không chỉ được ghi nhận một cách trân trọng trong các sử liệu, cây trầm hương còn được các vua triều Nguyễn khắc lên cửu đỉnh (được đúc từ cuối năm 1835 đến đầu năm 1837 thì hoàn thành) đặt trước sân nhà Thế Miếu trong Hoàng thành. Trầm hương được khắc trên Cao đỉnh (Cao - miếu hiệu của vua Gia Long), còn kỳ nam được khắc trên Nhân đỉnh (Nhân - miếu hiệu của vua Minh Mạng) với dòng ghi chú: Cây ở vùng rừng Khánh Hòa, ruột lõi rất thơm.



Như vậy là, kể từ khi tới vùng đất Khánh Hòa, người Việt đã biết khai thác và sử dụng trầm hương. Rồi thì, không biết tự bao giờ, Khánh Hòa được nổi danh là “xứ trầm hương”. Thế nhưng, trước đó, “xứ trầm hương” thuộc Chiêm Thành. Vậy, người Chiêm Thành xưa kia đã biết đến và đã khai thác trầm hương chưa?

Rất may, các sử liệu cổ của Trung Quốc đã cho biết khá rõ về nhiều phương vật của Chiêm Thành xưa, trong đó có trầm hương. Ví dụ, khi viết về Lâm Ấp vào đầu thế kỷ VII, Lương Thư (quyển 54, Liệt truyện 48, Chư Di - Hải Nam) có đoạn nói về một quốc gia có tên là Tây Quốc Di: “Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam đời Hán… Biên giới phía nam đi đường thủy bộ hơn 200 dặm có Tây Quốc Di cũng xưng vương… Nước đó có núi vàng… Lại sản xuất đồi mồi, vỏ bối, ngà voi, cát bối, hương gỗ trầm… Gỗ trầm, thổ nhân đẵn ra, để cất hàng năm, mục nát nhưng lõi ruột vẫn còn, bỏ vào nước thì chìm, nên gọi là trầm hương, thứ nữa là loại không chìm không nổi gọi là sạn hương” (5). Mà, Tây Quốc Di, sau này trở thành đất Chiêm Thành, chính là vùng đất Khánh Hòa ngày nay. Về điều này, Đại Nam nhất thống chí, khi viết về lịch sử của tỉnh Khánh Hòa, có nhắc tới việc vùng đất vốn là “khiếu ngoại quốc” (hay Tây Quốc Di), “sau bị Chiêm Thành gồm chiếm, sau là đất Chiêm Thành”(6). Các sử liệu cổ của Trung Quốc còn cho biết, n_ từ thế kỷ III sau C.N, trầm hương của Chămpa đã được người Trung Quốc biết đến và luôn được ghi chép là cống vật của Chămpa. Sau thế kỷ IX, người Hồi giáo và người phương Tây cũng hay nhắc tới trầm hương của Chămpa. Ví dụ, Tome Pires viết: “Trong các mặt hàng của Chămpa, quan trọng nhất là Kalambak. Đây là loại trầm hương thực sự, là loại trầm hương tốt nhất trong các loại trầm… Loại Kalambak chất lượng tốt nhất là ở Chămpa”. Thậm chí, đến đầu thế kỷ XVII, dựa vào các nguồn tài liệu Trung Quốc trước đó, Zhang Xie đã làm một bảng danh sách những sản vật của Chămpa gồm: “vàng, bạc, thiếc, sắt, ngọc trai, hổ phách, sừng tê, ngà voi, mai rùa, trầm hương, gỗ đàn hương, long não, xạ hương, đinh hương, trầm, gỗ mun, tổ yến, gạo, hạt tiêu, cau, dừa, mít, nhục đậu khấu, tê giác, sư tử, voi, vượn, khỉ trắng, voi trắng, vải bông trắng, chiếu lá cọ, sáp ong vàng, lưu huỳnh, gỗ vang...” (7).

Không chỉ thời xưa, mà vào thời cận và hiện đại, nhiều nơi trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và châu Âu đã biết đến và có những đánh giá rất cao về các loại trầm hương có nguồn gốc từ Việt Nam. Trong nhiều sách của nước ngoài, trầm hương Việt Nam được coi là tốt nhất. Thậm chí, vị giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) còn nhấn mạnh rằng “chỉ Việt Nam mới có kỳ nam”. Gần đây, vào năm 2003, tại cuộc hội thảo quốc tế về trầm hương ở Việt Nam, các nhà khoa học đã khẳng định: “Trầm hương của Việt Nam là tốt nhất, được mua với giá cao nhất, sản lượng trầm trên thế giới bị phụ thuộc vào Việt Nam và Việt Nam được xem không chỉ là vương quốc của trầm hương trong quá khứ mà còn là nguồn trông cậy của cả thế giới hiện nay và cả trong tương lai, bởi trầm là một loại dược liệu và hương liệu thượng thặng không có gì thay thế”(8).

Người Việt từ xưa đã hiểu rất rõ những giá trị về dược của trầm hương (tức trầm và kỳ): Trầm dùng giáng khí, kỳ dùng trị các chứng phong đàm. Trầm và kỳ còn đuổi được khí tà độc, khí ô uế. Trầm thì đốt lên, còn kỳ thì chỉ cần đeo vào mình là đủ. Ngoài làm dược liệu, trầm hương còn được dùng vào nhiều việc khác nữa như lấy bặp trầm hương chạm tỉa thành hình tháp, hình non bộ, tượng Phật, tượng Bà Thiên Y... dùng làm gối và dùng để đốt lên vào những dịp cúng tế. Vì những giá trị dược liệu quý hiếm, nên kỳ nam thường rất đắt. Do vậy, để đánh giá các hạng kỳ nam khác nhau, dân gian đã đúc kết thành kinh nghiệm: Nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc. Còn trầm thì được phân thành bốn loại: trầm mắt kiến, có lỗ, có hang do kiến đục làm tổ trước khi cây thành trầm; trầm rễ do rễ cây sinh ra; trầm mắt tử kết tạo trên nhánh cây và cuối cùng là trầm tốc ở nơi thân cây (loại trầm có nhiều nhất và phổ biến nhất trên thị trường). Ngoài ra, người ta còn có thể phân biệt kỳ tốt hay xấu bằng những cảm nhận sau: Loại nào nhuyễn mịn và có nhiều chất dầu là tốt nhất, còn loại nào rắn chắc là xấu; gói kỳ trong lá chuối thật kín, đem phơi nắng, đến tối đem vào, nếu có nhiều chất dầu chảy ra là thứ tốt. Không chỉ biết phân biệt giá trị của các loại trầm hương, người Việt vùng Khánh Hòa còn có kinh nghiệm và những điều kiêng kỵ khi đi lấy trầm. Do đi nhiều và sử dụng nhiều để buôn bán và để dùng, người dân Khánh Hòa biết trầm ở đâu trong tỉnh là tốt nhất. Tri thức dân gian đó đã được đúc kết vào câu ca dao: Cây quế Thiên Thai mọc ngoài khe đá, Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm... Vì lấy trầm phải đi lâu ngày và phải vào rừng sâu, núi thẳm, nên người đi điệu (đi tìm trầm), ngoài lương thực, còn phải mang theo loại thuốc đặc biệt chống khí độc rừng núi, trị các bệnh hiểm nghèo, phòng rắn rết... được gọi là ngải do các ông “thầy mo” miền Thượng (Tây Nguyên) bán cho. Khi đi tìm trầm, người đi điệu phải ngậm ngải vào miệng. Vì thế tục ngữ mới có câu: Ngậm ngải tìm trầm. Rồi thì, theo tương truyền, trước khi đi tìm trầm, người đi điệu phải xem được ngày tốt mới xuất hành, phải ăn chay ba ngày trước và phải sắm lễ vật vào rừng dâng lễ cầu khấn Bà Thiên Y A Na là vị chúa tể các khu rừng Khánh Hòa (xứ Kauthara của Chiêm Thành) đồng thời cũng chính là hiện thân của cây trầm để cầu xin Bà cho được thành công...(9).

Như vậy, các tài liệu lịch sử của Trung Quốc, Việt Nam… đã cho biết, Chămpa xưa là nơi có nhiều trầm hương và trầm hương của Chămpa đã nổi tiếng trên thị trường quốc tế từ rất sớm. Các tư liệu lịch sử còn cho biết khá cụ thể về nơi có trầm hương vào loại tốt nhất của Chămpa xưa là vùng đất Khánh Hòa. Không chỉ để buôn bán, để làm thuốc, và để làm phương vật triều cống, trầm hương còn được người Chămpa xưa và người Chăm hiện nay sử dụng nhiều trong các lễ thức cúng thần. Các bia ký cổ của Chămpa ở khu đền Pô Nagar (Tháp Bà ở Nha Trang) không ít lần nói tới việc các vị vua dâng cúng các đồ vật quý cho các thần, và, trong các đồ vật quý đó, thường hay có các bình bằng vàng để đốt trầm hương. Ví dụ, trong bài bia ký của vua Rudravarman III, khắc năm 972 Saka (1050), có nói tới một trong những đồ vật quý mà nhà vua dâng cúng cho ngôi đền là một chiếc bình bằng vàng để đốt trầm (10). Còn ngày nay, trong các lễ thức cúng thần của người Chăm, trầm luôn được dùng để đốt lên cầu các thần xuống nhận lễ. Trong những lễ cúng thần, trầm được đốt lên, còn người chủ lễ thì vừa đánh nhạc vừa khấn cầu các thần về. Rất tiếc là cho đến nay chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu về cây trầm hương, cách khai thác cũng như việc sử dụng chúng của người Chămpa xưa ở vùng đất Khánh Hòa ngày nay. Chắc chắn là người Việt ở Khánh Hòa đã tiếp thu nhiều điều từ người Chăm trong việc sử dụng và khai thác trầm hương...

Một vấn đề mà chúng tôi quan tâm là vì sao nữ thần Pô Nagar lại “hóa thân” là thần mẹ của cây trầm hương. Rất tiếc là các tài liệu bia ký ở khu đền Pô Nagar chưa cho biết điều đó. Sau này khi tiếp nhận vị thần của người Chăm để tiếp tục thờ phụng, người Việt vẫn gọi Pô Inư Nagar (hay Pô Inư Nưgar) là Thiên Y Thánh Mẫu hay Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Thế nhưng, trong các bài cúng mà các ông thầy người Chăm thường tụng trong những dịp lễ cúng thần hiện nay, nữ thần Pô Nagar hiện lên không chỉ là Thần Mẫu tạo lập ra xứ sở và vạn vật mà còn là Thần Mẹ của cây trầm hương. N_ từ đầu thế kỷ XX, ông Cabaton đã sưu tầm được bài cúng nữ thần có nội dung như sau: “Ngày xưa, thần Inư Nưgar sinh ra đất, gỗ trầm, lúa gạo. Gỗ trầm, gỗ kỳ nam từ Yan Inư Nưgar mà phát hương thơm tỏa ra. Không gian bao quanh, từ Yan Inư Nưgar, nức hương thơm của lúa” (11). Sự gắn kết giữa nữ thần với cây trầm còn được thể hiện trong các truyền thuyết về Pô Nagar hay Thiên Y A Na của người Chăm và người Việt thông qua các chi tiết nữ thần nhập thân vào cây trầm rồi từ cây trầm hiện thân ra (12).

Không chỉ trong thư tịch cổ hay trong các bài cúng, mà trên thực tế, người Việt ở Khánh Hòa, nhất là những người đi điệu cho đến nay vẫn tin rằng trầm hương (kỳ và trầm) là của Bà Thiên Y A Na. Ngoài ra, những người tìm trầm còn truyền rằng Bà có bốn cây trầm hương kỳ cựu trấn ở bốn phương trong vùng đất Khánh Hòa: 1 ở Đồng Bò trấn phía nam, 1 ở Hòn Bà (huyện Ninh Hòa) trấn phía bắc, 1 ở Hòn Dữ (huyện Diên Khánh) trấn phía tây và 1 ở Suối Ngổ trấn phía đông. Những cây trầm này, theo truyền tụng, không còn lá, không còn giác, mưa nắng không thể làm hư mục được và có chim muông, cọp rắn canh giữ không cho ai lấy. Những người đi điệu tin rằng, vì trầm hương là của Bà Thiên Y A Na, nên Bà cho ai thì người ấy được. Rồi, một số danh thắng nổi tiếng của tỉnh Khánh Hòa cũng có những gắn kết với thần mẫu trầm hương Thiên Y A Na. Ví dụ, Hòn Bà nằm ở phía tây nam huyện lỵ Ninh Hòa, nơi có nhiều trầm hương, là núi mà dân địa phương coi là của Bà Thiên Y A Na nên gọi là Núi Bà. Trên núi có miếu thờ. Dân đi tìm trầm, trước khi vào rừng, đều phải đến miếu cầu khấn để xin Bà ban phước gặp được trầm. Nằm sát Ninh Hòa và Diên Khánh, có núi Hòn Dữ. Vì là núi của Bà Thiên Y, nên rừng Hòn Dữ có rất nhiều trầm hương. Tại Suối Đổ (trong địa phận làng Phước Trạch, vùng phía tây dãy núi Hoàng Ngưu), có những truyền thuyết nói đây là nơi mà Bà Thiên Y hay đến ngồi hóng mát, là nơi có cây trầm hương to đến bốn người ôm và dài đến hơn 10 thước, thường tỏa hương trầm ngan ngát. Tại đây, ở nơi hồ thấp nhất trong ba hồ, có đền thờ Bà Thiên Y. Suối Cát thuộc địa phận huyện Ninh Hòa cũng được tương truyền là nơi Bà Thiên Y hay đến ngồi hóng mát. Xung quanh đây có nhiều cây dó và rất nhiều cọp. Theo dân gian, số cọp này là do những người ngậm ngải tìm trầm không về được mà hóa thành. Một địa danh nữa có tên Suối Ngổ ở phía đông bắc Diên Khánh cũng là vùng lãnh thổ của Bà Thiên Y A Na, vì ở đó có nhiều cây dó sinh trầm hương...

Việc nữ thần Pô Nagar là thần mẹ của cây trầm hương và ngược lại, cây trầm hương luôn là đối tượng để nữ thần hóa thân vào, phải có những nguyên nhân của nó. Theo chúng tôi ngoài vai trò đấng sáng tạo, trong trường hợp này, nữ thần Pô Nagar đồng thời còn là một anh hùng văn hóa - người bảo hộ cho cây trầm hương và nghề tìm trầm. Đây là một hình thức kết hợp vừa cụ thể vừa hoàn hảo (cả về ý tưởng và hình ảnh) giữa nữ thần Pô Nagar và cây trầm hương. Hiện tượng đặc biệt này phần nào được nảy sinh từ chính một loại cây cũng rất đặc biệt.

Trước hết, phải nói rằng trầm hương là do cây dó sinh ra. Thế nhưng, không phải giống cây dó nào cũng sinh ra trầm hương. Cách tạo ra trầm hương của các cây dó cũng rất đặc biệt. Dân gian truyền rằng, hương trời bay theo gió đáp vào thân cây, ban đầu dính ngoài vỏ rồi ăn lần vào thịt cây. Lâu ngày, thịt cây thấm hương trời biến thành trầm hương. Hoặc, cây dó sinh ra trầm là vì thân cây, rễ cây bị thương tích, chất dầu trong cây tụ lại để chống lại sự phá hoại của vết thương. Vết thương lành, chất dầu đọng lại dần dần biến tính và thành trầm hương. Những cây dó có trầm thường bị xơ xác và thân có u, có nầng. Nhiều cây nổi phồng ra như “ruột chửa” hoặc như bắp chuối.

Khoa học đã khẳng định, trầm hương và kỳ nam là phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó mọc nhiều trong những cánh rừng già ở Trung Bộ Việt Nam. Những cây dó có thể sống lâu và phát triển to lớn thành cổ thụ. Cây dó có hai loại: dó bầu (Aquilaria agallocha) và dó gạch hay còn gọi là dó niệt (Aquilaria malaccensis). Dó gạch cũng cho trầm, nhưng mùi thơm nồng, hắc, có vị tanh và giá trị thấp. Chỉ có dó bầu mới cho trầm tốt và kỳ nam. Cây dó bầu cao từ 10-40m, vỏ xám, thân thẳng, ít nhánh, là loại cây ưa ẩm, chịu bóng râm, thường phân bố trên độ cao từ 300m - 600m so với mặt biển. Thế nhưng, không phải bất kỳ cây dó bầu nào cũng tạo thành trầm hương. Về nguyên lý, như dân gian đã đúc rút, để cây dó tạo thành trầm phải có hai yếu tố. Một là cây bị chấn thương cơ giới mạnh... Hai là, tại những nơi chấn thương ấy, sau một thời gian dài từ 10-15 năm, dưới tác động mỗi ngày một ít của những chỉ tiêu sinh thái đặc biệt, những bào tử sẵn có nằm trong không gian môi trường tác động vào vết thương gây ra những phản ứng hóa học bên trong cây dó và từ đó tạo thành trầm hương (tùy theo mức độ tác động mà có trầm tốt hay xấu). Người xưa đã biết ít nhiều về quá trình cây dó biến thành trầm, nên những khi đi điệu, khi gặp những cây dó bầu chưa ăn trầm, họ thường chém vào rễ, thân hoặc nhánh cây, với hy vọng sau đó cây sẽ tạo trầm. N_ từ thế kỷ XVIII, dựa vào các sách vở ghi chép của tiền nhân, Lê Quý Đôn đã viết về cây trầm hương: “Trầm hương cây giống như cây thông cây gạo, có nhiều mắt, lấy thì trước chém gốc cây, để lâu năm vỏ và thân đều nát, ruột và mắt không nát là trầm hương”(13).

Qua ghi chép xưa cùng tri thức dân gian và cứ liệu khoa học, có thể nhận thấy những nét đặc trưng ít nhiều mang tính “thần kỳ” của cây trầm hương... Theo chúng tôi, có lẽ khó tìm thấy trong kho tàng thần thoại của thế giới một hình ảnh mang tính biểu tượng nào hoàn hảo được như cây trầm hương để diễn tả ý tưởng về tính phồn thực của trầm mẹ sáng tạo. Có thể thấy ở cây trầm hương sự trường tồn cùng sức mạnh và chu trình sáng tạo mang tính phồn thực của cây đời (một biến thể thường hay gắn với hình ảnh của nữ thần sáng tạo của cây vũ trụ) phổ biến trong thần thoại của nhiều dân tộc trên thế giới (14). Rồi việc dùng cây trầm hương để làm biểu tượng cho nữ thần mẹ vĩ đại của xứ sở... Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên, nơi phát tích của nữ thần Pô Nagar cũng là nơi duy nhất của Việt Nam được mệnh danh là xứ trầm hương.

N.V.D

_______________

1, 13. Lê Quý Đôn, Toàn tập, Tập I, Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977, tr.331.

2, 6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí (bản dịch tiếng Việt), tập 3, Nxb Thuận Hóa, tr.88-89, 87-88.

3. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (bản dịch tiếng Việt), tập 1, Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tr.169.

4. Có thể tham khảo: Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời (tái bản), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005, tr.213.

5. Dẫn theo Lương Ninh, Lịch sử vương quốc Champa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr.319-320.

7. Dẫn theo Momoki Shiro, Chămpa chỉ là một thể chế biển?, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 (37), 1999, tr.43-48.

8. Huỳnh Văn Mỹ, Trầm hương Việt Nam - Hội thảo quốc tế năm 2003, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 557.

9. Về trầm hương và về việc tìm trầm, có thể tham khảo: Quách Tấn, Xứ trầm hương, Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa, 2002; Nguyễn Đình Tư, Non nước Khánh Hòa (tái bản), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2003.

10. Xem R.C. Majumdar, The Inscriptions of Champa, Delhi, Gian Publishing House, 1985, p.159

11. A.Cabaton, Nouvellé Recherché sur les Cham, Paris, 1901.

12. Tham khảo các truyền thuyết trên trong bài viết của chúng tôi (Ngô Văn Doanh) Tháp Bà Pô Nagar: từ các purana Ấn Độ đến các huyền tích dân gian của người Chăm và người Việt, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 (76), 2006, tr.41-47.

14. Tham khảo R.Cook, The tree of life, Image of the cosmos, London, 1974.



www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page
   Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 0.25 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05