Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Ca Dao và Tục Ngữ
 Giải Thích Ca Dao
 sự khác nhau...
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Previous Topic Topic Next Topic  

liêm
Starting Member

11 Posts

Posted - 04/16/2008 :  21:17:18  Show Profile  Reply with Quote
giữa ca dao, tục ngữ, quán ngữ, thành ngữ, cách ngôn, châm ngôn có gì giống và khác nhau?

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:27:24  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Có mấy thông tin, xin được post lên đây để các bạn tham khảo

CA DAO, TỤC NGỮ

Ca dao, tục ngữ, dân ca truyền miệng của Việt Nam, có sắc thái độc đáo, khó sánh được. Câu 6, câu 8, có vần, có điệu, ý nghĩa và tinh tế và vô danh chẳng biết tác giả là ai. Thuộc giới bình dân hay trí thức, nông dân hay thầy giáo" ? Chỉ biết riêng ca dao mênh mông kỳ thú, phản ánh nếp sống, lối suy nghĩ của dân tộc Việt trải qua 4000 năm văn hiến. Một dân tộc văn minh, nhiều nghị lực, dũng cảm, đầy thi vị.
Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam. Không phải dân tộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế. Non nước Việt Nam đẹp nghìn thu, vô song. Người nước Việt cũng khác thường. Trải qua nhiều thời đại, kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câu tục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ. Dân ca là ca dao đã được dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương.
Ca dao, tục ngữ, kho tàng văn học phong phú, là kiến thức vô giá. Ca dao thể hiện nghệ thuật sống đẹp, phong tục tập quán, tín ngưỡng. Ca dao đầy tình nghĩa : Tình cảm trai gái, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, tình cảm giữa con người với thiên nhiên, cây cối loài vật.
Ca dao, tục ngữ, dân ca đặc cao giá trị nếp sống của con người tự do xã hội chủ nghĩa. Ca dao bảo vệ chân thiện mỹ, đề cao cái đẹp cái hay, chỉ trích cái xấu trong xã hội loài người.
Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mến yêu. Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiện hữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt. Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinh thần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt, nhất định không chịu đồng hoá.
Hãy đọc ca dao, tục ngữ dân ca để thấy thông điệp của tiền nhân để muôn đời cho dân con nước Việt.


THÀNH NGỮ

Trong ngôn ngữ Việt có hẳn một kho thành ngữ, trong đó phải kể đến những câu, những lời bình nghị sinh động về phẩm cách con người, về đạo lý ở đời, về nhân tình thế thái. Chỉ kể những câu có bốn từ, bốn tiếng đăng đối giàu biểu cảm người ta đã có thể liệt kê ra rất nhiều. Xin viện dẫn: "Xấu người đẹp nết", "Giấu đầu hở đuôi", "Cười thuê khóc mướn", "Nước chảy đá mòn", "Giận cá chém thớt", "Bóc ngắn cắn dài", "Bòn tro đãi sạn", "Chọn đá thử vàng", "Dẻ cùi tốt mã", "Văn mình vợ người", "Ma chê cưới trách", "Quýt làm cam chịu", "Con dại cái mang", "Chị ngã em nâng", "Công cha nghĩa mẹ", "Môi hở răng lạnh"...

Ðặc điểm của loại thành ngữ này là bốn từ đều là từ đơn, đứng độc lập, có nghĩa riêng; chia thành hai cặp đối xứng nhau. Ví như câu "Xấu người đẹp nết" thì xấu, người, đẹp, nết; bốn từ đơn mang hàm nghĩa riêng, độc lập, không cần liên kết hoặc phụ thuộc vào từ khác; chia thành hai cặp đối xứng là xấu người đối với đẹp nết; đối cả ý lẫn lời; xấu đối với đẹp, người đối với nết. Toàn bộ câu thành ngữ đại ý nói: người ta không được trời phú cho cái nhan sắc bề ngoài, thậm chí bề ngoài không vừa mắt ai song cái người "xấu người" ấy hoá ra lại mang vẻ đẹp bên trong, giàu có về đạo đức, về đường ăn nết ở mà người Việt gộp chung vào khái niệm "nết". Gần nghĩa với câu này còn có câu "mạnh miệng" hơn là "cái nết đánh chết cái đẹp" - đương nhiên "đánh chết" chỉ là cách nói cường điệu gây ấn tượng, nhấn mạnh phần hơn hẳn, phần ưu việt của nết so với vẻ đẹp hình thức. Phân tích thêm câu "văn mình vợ người" nói về một cái "thói đời" chung khá phổ biến ở giới mày râu là tự cho văn mình bao giờ cũng hay hơn văn người, ngược lại vợ người thường bao giờ cũng đẹp hơn vợ mình trong con mắt soi ngắm của họ. Bốn từ đơn "văn, mình, vợ, người" đều có nghĩa riêng; chia thành hai cặp từ đăng đối: văn mình và vợ người. "Văn" đối với "vợ", "mình" đối với "người". Câu thành ngữ có ý khéo phê tính chủ quan, cảm tính của cánh đàn ông, tự phụ cho văn mình hơn hẳn văn người khác; song vì đã quá quen nên họ chỉ thấy vợ mình là người bình thường, thậm chí tầm thường; chỉ thấy vợ người là đáng để chiêm ngưỡng. Những câu thành ngữ bốn từ bốn tiếng chia thành hai vế đối cả lời lẫn ý trên đây thường được người Việt dùng để phẩm bình trong những trường hợp thấy sự đời tương ứng để biểu tỏ thái độ khen chê. Ví như nói về một cô gái nào đó trời không cho sắc đẹp, thậm chí xấu người nhưng đức hạnh thì người ta có thể nói "cô ấy xấu người đẹp nết" nên ai cũng quý.

Cũng có khi người Việt chỉ cần dùng nguyên văn thành ngữ, chẳng cần diễn giải thêm người nghe vẫn hiểu hết ý tứ. Ví như nói về một ai đó làm ít song lại hoang tiêu, người ta nói n_: đồ "bóc ngắn cắn dài". Ðây là cách nói tượng hình, lấy hình ảnh người ăn chuối, bóc thì ngắn - cắn thì dài, có khi "ăn" cả vào vỏ. Cách nói ấy dường như chỉ có người Việt mới cảm được, rất khó chuyển ngữ những câu thành ngữ hình tượng hoá đại loại như thế vì ở đây có sự liên tưởng rất xa.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:28:53  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

Theo định nghĩa trong Tập "Tục Ngữ, Thành Ngữ Ca Dao và Dân Ca Việt Nam" của cụ Trần Ngọc Ngải, Chicago, Illinois, USA 1997:

- Ca Dao (petit chanson populaire) = Câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian
- Cách Ngôn (Précepte, Maxime) = Lời nói làm khuôn phép (cách kiểu mẫu, khuôn mẫu)
- Châm Ngôn ((Précepte, conseil) Lời văn có vần điệu để khuyên đời
Dân Ca (Chanson populaire) Bài ca có tính cách dân tộc, dễ hiểu và hợp với tâm tình đơn giản của nhân dân
- Ngạn Ngữ (Proverbe, dicton populaire) Câu nói ngắn gọn của dân gian với mục đích răn dạy
- Phong Dao (Chanson populaire) = Lời ca câu hát của dân gian tại các địa phương mà có thể hiểu được phong tục tập quán của một dân tộc trong lịch sử
- Phương Ngôn (Proverbe) = Lời nói thông dụng của từng địa phương có ý nghĩa như câu tục ngữ
- Tục Ngữ (Proverbe) = Câu nói có tính cách răn dạy hay châm biếm chuyện đời
- Thành Ngữ = Là những câu nói ngắn gọn dân gian thường dùng trong khi nói hay viết cho có vẻ mầu mè. (Trang 3)

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:30:37  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Theo Ông Lê Gia trong bộ sưu tập "Tâm Hồn Mẹ Việt Nam" (NXB Văn Nghệ, 1994) đưa ra những nhận định khá khác biệt với những Sưu tầm ca dao trước đây. (Trang 13 - 30 Quyển Một)

a. Tục Ngữ: Câu nói dựa theo phong tục ăn sâu vào tư tưởng mọi người, được mọi người chấp nhập và truyền tụng. (trang 13)

Có người hiểu theo nghĩa thứ 2 (Tầm thường thấp kém, tục tằn (t.13) mà cho rằng Tục ngữ là câu nói thô tục, quê mùa không văn vẻ (Bất thành văn) thuộc đám bình dận. (t. 14)

a1. Thành ngữ: là một phần câu, do một số tiếng góp nên, nhưng lại là phần quan trọng. (t. 18)

Thí dụ: Trong câu tục ngữ
Nói phải như gãi chỗ ngứa (Tục Ngữ)

Cũng như trong câu phong giao:
Một ngày hai bữa cơm đèn
Còn gì má phấn răng đen hỡi chàng

Thì "Gãi chỗ ngứa" và "Má phấn răng đen" là hai thành ngữ.
Nhưng gãi trúng chỗ ngứa lại là một câu tục ngữ vì nó có ngụ ý (nghĩa bóng) và thay cho một câu trọn nghĩa: Làm đúng việc, làm có lơi...

a2. Ngạn Ngữ: Câu nói có từ lâu đời, được lưu truyền trong một nước, một vùng. Có nhiều người dùng "Ngạn ngữ" thay cho "Tục ngữ" (t.22)

a3. Sấm Ngữ: Nghiệm đúng sự việc sẽ xảy ra ... như "Mặt rỗ, tổ ghen"

"Chớp Đông hay nháy, gà gáy thì mưa" (Sấm Trạng)(t.22)

a4. Mê Ngữ (Câu đố): Mơ hồ, không rõ... Mê ngữ là các câu đố, có ẩn nghĩa như: Đầu bằng con ruồi đuôi bằng cái đĩa (t.23)

a5. Phương ngôn: 1. Tiếng nói hoặc một câu văn hay của một vùng nào đónhư: "Trai Cầu Vồng yên Thế, gái Nội Duệ Cầu Lim" 2. Câu nói hay, chỉ phương hướng cho ta theo là phương pháp cho ta dùng, như: Bầu ơi thương lấy bí cùng , Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. (t.23)

a6. Cách Ngôn: Lề lối, phép tắc (t.24)

a7. Châm Ngôn: Có nghĩa là răn đời, lời nói dùng làm kim chỉ đường cho cuộc sống (t.24)

a8. Ngụ ngôn: Lời nói có ý nghĩa bên trong (t.24)

a9. Túy ngôn: Theo Hán tự Túy là: Của cải, gia sản, tức cái hay cái quý cái đẹp. (t.25)

Phân tách cho kỹ, ta thấy: Phương ngôn, cách ngôn, châm ngôn, túy ngôn... là lọai tục ngữ nói về cách cư xử, còn sấm ngữ, mê ngữ nói về việc làm ăn chơi bời. Tất cả đều gọi chung là Tục Ngữ(t.25)

b. Phong Dao: - Hát ngắn, bài hát câu hát không thành chương khúc, ít giọng điệu, chỉ dùng thanh nhạc, không có nhạc khi phụ họa, dùng hát hát ngâm chơi tùy hứng, không trình diễn với sân trường và bối cạnh

- Lời đồn đại, lời nói vô bằng cớ, không biết xuất xứ (Dao ngôn, Dao tục)

Vậy phong dao có nghĩa là những câu , những bài hát ngắn chưa thành chương khúc, ít giọng điệu, dựa theo phong tục tập quán và được truyền tụng lâu đời, không rõ tác giả và xuất xứ, đôi khi có tính cách đồ đại một sự việc gì. (t.26)

b1. Đồng dao: Những câu hát ngắn, không rõ xuất xứ, của trẻ con hát chơi hay đồn đại một sự việc gì như:

"Ông tiển ông tiên

Ông có đồn tiền ...." (t.27)

b2. Lý ca hay Lý ngữ: ...là câu hát nơi đồng quê, được hát một cách thản nhiên, một cách nhàn nhã như:

"Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái... (t.28)

Vè của ta vừa là Thi vừa là Dao....(t.29)

c. Dân Ca: Hát lên, tiếng hát, bài hát có giọng điệu, tiết tấu, chương khúc (có bài bản) (t.29)

d. Ca Dao: Như trên ta đã thấy, hai chữ "Ca" và "Dao" có hai nghĩa khác nhau cũng như hai chữ "Thi" và "Phú" vậy.

Sách "cổ dao ngạn" (Phong dao, ngạn ngữ) xưa có viết: Ca va Dao khác nhau ở chỗ là Dao có thể dùng làm lời Của Ca.

Sách Mao Truyện (Truyện hay chọn lọc) nói: "Khúc hợp nhạc viết Ca, đồ ca viết Dao" có nghĩa là khúc hát có đệm nhạc là Ca, hát trơn là Dao.

Vậy một bài hát không thể vừa Ca vừa Dao nên cũng không thể có bài hát nào được gọi là bài Ca Dao cả (t.30)

Truy nhiên, để dễ sắp xếp chúng tôi vẫn dùng Ca Dao, Tục Ngữ và Dân Ca đồng thời thêm phần Dân Ca đã được phổ nhạc để tiện dụng

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:39:17  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Có thể nói: Ca dao là những câu thơ có vần điệu, thiên về tình cảm; Thành ngữ là những câu thơ ngắn gọn, thiên về lý trí

1. Ca dao: thơ ca truyền miệng dưới dạng những câu hát, hoặc văn vần.
Ca dao là những câu lục bát, câu ca về cuộc sống, có thể đó là sự đồng cảm giữa con người, có thể đó là kinh nghiệm, có thể là cách lý giải các hiện tượng thiên nhiên, có thể là câu đố... Ca dao là phần ngôn ngữ từ của dân ca.

Ví dụ:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân...

Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều;

Chợ chiều nhiều khế ế chanh
Nhiều cô gái lạ nên anh chàng ràng;

Mang chiêng đi đánh nước người
Chẳng kêu cũng thử một vài tiếng chơi

Đem chuông đi đấm nước người
Chẳng kêu, tôi vác chuông tôi, tôi về
...

2. Tục ngữ: là những câu nói, cụm từ (thường có vần điệu), đó là kinh nghiệm được đúc kết từ bao đềi của ông cha ta, truyền qua các thế hệ con cháu về sau. Có thể là kinh nghiệm về cuộc sống, về con người, thiên nhiên...

Ví dụ:
Vỏ quít dày, có móng tay nhọn


3. Thành ngữ: là một nhóm những từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường khó giải thích một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên câu đó. Và theo cụ Lê Gia thì Thành ngữ là một phần nhỏ từ Tục ngữ

Ví dụ:
Hai sương một nắng

Thành ngữ là những câu nói, cụm từ quen thuộc (có thể có vần hoặc không) của một lớp người trong xã hội, có thể bắt nguồn ở thọi điểm hiện nay hoặc từ thọi trước, dùng để chỉ một hiện tượng, sự việc...

Quán ngữ thì giống như thành ngữ. Cả ba thành phần trên đều có cái chung là sự không rõ tác giả, xuất xứ của câu, thường truyền miệng là chủ yếu nên thường có nhiều dị bản, từ dùng có thể khác nhau đôi chút giữa các vùng miền...


www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:54:31  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Thành ngữ trong tiếng việt

Hồng Huy

Tất cả các ngôn ngữ có vốn từ vựng phong phú đều có thành ngữ. Từ vựng càng phong phú, thành ngữ càng nhiều. Nếu chỉ so về số lượng, thì số thành ngữ của tiếng Việt không nhiều bằng số thành ngữ của tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Hán. Nhưng tính tỉ lệ giữa số thành ngữ và từ vựng, thì tiếng Việt có tỉ lệ cao hơn. Lý do là vì người Việt chúng ta, trong khi nói, trong khi viết, thích dùng những ý, những mẫu có sẵn. Những mẫu, những ý ấy được những thế hệ trước tạo ra, những thế hệ sau ứng dụng quen, trở thành thành ngữ. Nhưng hệ quả không dừng lại ở đó. Thế hệ ngày nay chắc chắn cũng tạo ra được những ý, những mẫu mới, để những thế hệ sau này dùng. Số thành ngữ hiện dụng sẽ có thêm một số mới, nhưng cũng có thể bớt đi một số cũ mà người ta không thích dùng nữa. Đó là cái thế tất nhiên trên con đường phát triển của một sinh ngữ.

Nhưng, thành ngữ là gì? Trước khi đi vào nội dung, thiết tưởng chúng ta cần tạm đồng ý với nhau về một số từ ngữ chuyên môn, và về một vài đặc điểm trong hiện tình tiếng Việt, để dễ hiểu nhau:

1- Chúng ta hãy dùng từ "ngữ pháp" để chỉ cách nói, cách viết đúng một ngôn ngữ. Ngày xưa, học giới thường dùng từ "văn phạm" vào chỗ này. Nhưng chữ "văn" (viết văn, làm văn) và chữ "phạm" (khuôn phép) đã thu hẹp phạm vi và chuyên môn hoá môn học, khiến người thường (không phải là học sinh, thầy giáo, nhà văn...) có thể nghĩ là môn học không liên quan gì đến họ. Từ "ngữ pháp" (cách nói đúng) có phạm vi rộng, dễ phổ cập hơn.

Nhưng xét về mặt ngữ nghĩa lý thuyết cũng như mặt phạm vi ứng dụng, "ngữ pháp" nói đây chính là "văn phạm", một thuật ngữ ngày trước chúng ta vẫn quen dùng để dịch chữ "grammaire" của tiếng Pháp, và chữ "grammar" của tiếng Anh.

2- Tiếng Việt của chúng ta cũng đã có một số sách ngữ pháp soạn thảo khá công phu, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có cuốn nào được mọi ngư;ời hoàn toàn chấp nhận. Thế cho nên, mỗi vấn đề chúng ta nêu ra ở đây đều có tính cách gợi ý, đề nghị, hoặc thử nghiệm.

3- Chúng ta hãy gọi những chữ như "ăn", "nhà", "ngon", "rộng", là từ; gọi những chữ như "ăn uống", "nhà cửa", "ngon lành", "rộng rãi", là từ ghép; gọi những chữ đã quen đi với nhau thành một nhóm, như "nói cho đúng", "tối như mực", "lỡ ông lỡ thằng" , là nhóm chữ , hoặc ngữ.

Đi vào phạm vi ứng dụng trong câu, tùy trường hợp chúng ta sẽ gọi những nhóm chữ ấy là "quán ngữ", là "khởi ngữ", là "khí ngữ", là "trợ ngữ", là "trạng ngữ", v.v...

Về mặt ý nghĩa, chúng ta cũng sẽ phân biệt "thành ngữ" và "tục ngữ"... Đồng thời, vạch ranh giới cho các câu tục ngữ, với những câu ca dao, ngạn ngữ, phương ngôn, danh ngôn...

4- Trong những thành ngữ thông dụng hiện nay, có một số có "dị bản" tức là khác nhau một đôi chữ, từ đó dẫn đến cách

hiểu khác nhau. Chúng ta cũng nên thảo luận để thống nhất ý kiến nên dùng câu nào, nên hiểu câu ấy theo nghĩa nào.



Bây giờ, chúng ta đi vào chủ đề thành ngữ. Như trên đã nói, tiếng Việt có nhiều thành ngữ. Nói cách khác, trong khi nói và viết, người Việt chúng ta hay dùng thành ngữ. Thay vì nói "đêm ấy, trời rất tối", chúng ta nói "đêm ấy, trời tối đen như mực"; thay vì nói "ông ta suốt ngày làm việc khổ cực", chúng ta nói "ông ta suốt ngày đầu tắt mặt tối".

Như vậy, chúng ta nhận ra một đặc điểm về công dụng của thành ngữ: Thành ngữ không phải là một cách phát biểu duy nhất đúng, cũng không phải là cách nói bắt buộc, mà là một cách nói thường được chọn lựa. Trong khi nói hoặc viết (từ đây, tôi sẽ dùng một mình chữ "nói", cho gọn), chúng ta dùng thành ngữ là muốn lời phát biểu có chỗ dựa, mong người nghe hiểu tắt theo lối ước lệ.

Chẳng hạn, khi nghe nói một ông nào đó "rán sành ra mỡ", không ai mất công suy nghĩ xem sành có rán ra mỡ được không, hoặc ông kia có chịu khó rán sành để lấy mỡ không, mà ai cũng hiểu là ông ta rất hà tiện, rất chắt mót. Khi nghe nói một người đàn bà nào đó có dung nhan "chim sa cá lặn", không ai thắc mắc rằng trước nhan sắc của một người đàn bà đẹp, chim có sa và cá có lặn thật không, mà ai cũng hiểu là người phát biểu muốn lột tả cái nhan sắc của người đàn bà kia.

Tóm lại, thành ngữ tạo ra sự mặc nhiên hiểu nhau giữa người nói và người nghe, qua ngữ nghĩa có tính cách ước lệ, đã được thừa nhận theo truyền thống.

Thành ngữ không phải luôn luôn gọn hơn, ít chữ hơn lời nói thường. Có lắm khi thành ngữ dài hơn. Chẳng hạn, nói "rất tối" chỉ tốn hai chữ, nhưng nói "tối như đêm ba mươi" phải mất năm chữ; nói "rất keo kiệt" chỉ mất ba chữ, nhưng nói "vắt cổ chày ra nước" phải tốn năm chữ. Nhưng nhiều người vẫn nghĩ là dùng thành ngữ thì lời nói hàm súc hơn. Vì đâu? Vì thành ngữ luôn luôn có tính cách tu từ, được coi là hay hơn, là ý nhị hơn lời nói thường.

Xin trở lại với những thành ngữ cực tả một đêm tối trời. Chúng ta có thể nói: Đêm ấy trời rất tối, chúng tôi nhìn chẳng thấy gì cả. Nói như vậy cũng rất rõ, nhưng chưa phải là cực tả, chưa có hình tượng gì.
Cho nên có khi chúng ta chọn cách nói khác: - Đêm ấy, trời tối đen như mực; ... tối ngửa bàn tay không thấy; ... tối như hũ nút ; ... tối như đêm ba mươi. Cả bốn câu đều có tính cách cực tả, hoặc dùng hình tượng. Câu đầu dùng sắc độ; câu thứ nhì nói đến tầm nhìn; câu thứ ba giả tưởng hoàn cảnh (ai chui vào trong hũ mà biết trong ấy tối); câu cuối đề cập đến sự bất thường của cái đêm đang nói (không phải là đêm cuối tháng, nhưng tối đen như một đêm nguyệt tận).

Nhận ra tính cách ước lệ của các thành ngữ, tức là chúng ta hiểu những nhóm chữ tu từ ấy có ý nghĩa tương đối hơn là chính xác, nặng về nghĩa bóng hơn là nghĩa thực. Không ai hiểu thành ngữ "bị đè đầu cỡi cổ" theo nghĩa đen là bị kẻ mạnh đè đầu xuống và ngồi lên cổ, mà chỉ hiểu theo nghĩa bóng là bị áp bức; không ai nghĩ thành ngữ "khọe như vâm" là thực sự mạnh như voi, mà chỉ hiểu là mạnh hơn bình thường. Hiểu một cách đồng tình châm chước như vậy, để mà dùng thành ngữ, để mà nghe thành ngữ, tức là chúng ta cầu viện ở thành ngữ cái công dụng cực tả, đôi khi có phần thậm xưng.

Vệ hình thức cấu tạo, thành ngữ là những nhóm từ cố định, quen đi với nhau để truyền đạt một ý nghĩa theo ngôn ngữ truyền thống. Chữ "cố định" ở đây cũng có nghĩa tương đối. Chúng ta nói "dày gió dạn sương", nhưng cũng có thể nói "gió sương dày dạn "; chúng ta nói "dễ như trở bàn tay", nhưng cũng có thể nói "dễ như lật bàn tay". Trật tự của các từ trong nhóm có thể thay đổi, thậm chí từ cũng có thể thay thế, miễn là nói lên được nguyên ý. Tôi nói "dữ như c��?p", nhưng bạn có thể nói "dữ như beo", và không ai cân nhắc câu nào đúng hơn câu nào.

Không biết từ đềi nào, ông cha chúng ta ghép những từ ấy lại thành nhóm với nhau để nói lên cái ý nghĩa kia, người đồng thọi và người đềi sau nghe thuận tai, bắt chước nói theo. Ngày nay, chúng ta tiếp tục dùng, và gọi tên những nhóm từ đó là "thành ngữ".



Cũng giống như trong những ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, ngoài những thành ngữ, còn có những nhóm từ khác quen đi với nhau. Nếu chỉ căn cứ vào yếu tố quen đi với nhau mà thành nhóm, thì chúng ta cũng có thể gọi tất cả những nhóm từ ấy là thành ngữ. Nhưng nếu còn dựa vào những yếu tố khác như vị trí trong câu, chức năng ngữ pháp, hoặc ý nghĩa riêng, thì chúng ta sẽ nhận ra không phải tất cả đều là thành ngữ. Tiếng Việt ngày nay đã đạt đến trình độ tinh luyện, chúng ta cũng nên thử phân biệt thành ngữ với những dạng thức tương tự.

Xin nêu thí dụ cụ thể để nhận định:

1- Để xác định phạm vi rộng hẹp của ý sắp trình bày, chúng ta thường mở đầu: - Nói chung thì ... (nói một cách tổng quát; nhìn chung; đại thể; đại cương mà nói...) - nói riêng thì... (đi vào chi tiết; nhìn riêng; để cho được rõ ràng hơn; chuyên biệt mà nói...).

Để khẳng định tính chất của ý sắp trình bày, chúng ta thường mở đầu: - Thành thực mà nói; nói chí tình; nói cho đúng; nói thật với nhau; nói mà không sợ quá lời; v.v...

Đây là những nhóm từ quen dùng, lịch sử có lẽ cũng không dài lắm. Một người nào đó dùng trước, chúng ta dùng theo, và ai cũng hiểu theo một ý. Vậy, chúng ta có thể gọi chúng là "thành ngữ" chăng? Có thể lắm. Nhưng các nhà ngữ pháp đã đặt tên cho chúng là "quán ngữ" (những ngữ quen dùng). Về mặt được dùng lâu ngày thành quen trong ngôn ngữ, thì "quán ngữ" không khác "thành ngữ". Nhưng để phân biệt, chúng ta hãy để ý điểm này: Thành ngữ thường có nội dung so sánh, còn quán ngữ chỉ là một cách nói.

2- Xét về mặt niên kỷ, quán ngữ phần nhiều ít tuổi hơn thành ngữ. Trong các tác phẩm cổ văn ra đời cách nay vài ba trăm năm, có thể có những thành ngữ "đẹp như tiên", "đen như cột nhà cháy", nhưng chắc chưa có những quán ngữ như "nói riêng với nhau mà nghe", "để bà con dễ thông cảm"...

3- Những quán ngữ được dùng để mở đầu một câu như trong các thí dụ nêu trên, thường được gọi là "khởi ngữ" (ngữ bắt đầu câu). Nhưng trong thông dụng, quán ngữ không phải luôn luôn là khởi ngữ. Nói cách khác, quán ngữ không phải lúc nào cũng đứng đầu câu để làm khởi ngữ. Quán ngữ có thể đứng giữa câu, cuối câu. Khi đó, quán ngữ sẽ mang tên theo chức năng ngữ pháp.

Thí dụ: Tình hình sách báo tiếng Việt ở hải ngoại, nói chung, cũng có điểm đáng mừng.

Nằm ở giữa câu, ý nghĩa không khác khi nằm ở đầu câu, nhưng quán ngữ "nói chung" không có chức năng mở đầu câu nên không được gọi là "khởi ngữ". Ở đây, nó có phận sự đưa đẩy. Chúng ta hãy gọi nó là "chuyển ngữ".

Bây giờ, chúng ta thử đặt "nói chung" ở vị trí cuối câu: Tình hình sách báo tiếng Việt ở hải ngoại cũng có điểm đáng mừng, nói chung. Nghe hơi mới, nhưng vẫn được. Về tên gọi, chúng ta có nên gọi quán ngữ này là "kết ngữ" không? Thiết tưởng không nên. Gọi thế sẽ trở thành cầu kỳ phiền toái, vì tuy rằng ở đây "nói chung" không nằm ở giữa câu, nhưng vẫn làm phận sự đưa đẩy lời nói. Cũng như trường hợp chữ "thưa ông" trong hai câu này: - Thưa ông, tôi đã làm xong. - Tôi đã làm xong, thưa ông. Vị trí khác, nhưng chức năng không khác.

Vậy, khi quán ngữ đứng ở đầu câu, chúng ta gọi là khởi ngữ; nếu chúng đứng ở vị trí khác, chúng ta gọi là chuyển ngữ. Nếu lười gọi tên riêng, chúng ta gọi chung chúng là quán ngữ.



Đến đây, đã có gì làm ranh giới giữa "thành ngữ" và "quán ngữ" chưa? Thiết tưởng đã có, nhưng chưa được minh bạch lắm. Xin nhắc lại và thêm:

- Thành ngữ và quán ngữ đều là những nhóm từ quen dùng đối với mọi người. Có thể có người không thích dùng, nhưng nghe vẫn hiểu đúng ý.

- Thành ngữ luôn luôn hàm ý so sánh, nhận xét, nặng về nội dung. Quán ngữ chỉ mở ý, chuyển ý, nặng về hình thức.

- Vệ số lượng, thành ngữ nhiều hơn quán ngữ thập bội. Nhưng tính số lần được dùng, thì quán ngữ được dùng nhiều hơn. Kiểm một cuốn sách khoảng 200 trang, không chắc đếm được đến 20 thành ngữ; nhưng có thể đếm được cả trăm quán ngữ mở đầu câu như "thật ra", "nhìn chung", "nói cho dúng"...



- Dịch một quán ngữ tiếng ngoại quốc ra tiếng Việt rất dễ (một số quán ngữ thông dụng trong tiếng Việt ngày nay có dạng gốc ở tiếng Anh, tiếng Pháp), nhưng không dễ gì tìm được, những thành ngữ đồng nghĩa trong hai thứ tiếng. Thường chỉ có thể dịch theo ý.



Bây giờ,chúng ta thử phân biệt thành ngữ và tục ngữ. Việc này khó hơn việc vừa rồi.

Cũng xin lấy thí dụ để phân biệt.

Xin nêu những câu có chữ "sống" và chữ "chết":

1- Sống lâu hơn giàu lăm (sức khỏe quí hơn của cải);

2- Sống chết có số (con người không làm chủ được sự sống chết của mình, vậy nên an nhiên mà sống cho phải đạo làm người);

3- Sống cái nhà, già cái mồ (già ở đây có nghĩa là chết. Khi sống, người ta cần ngôi nhà cho rộng rãi tiện nghi, khi chết đi, cần có ngôi mộ cho tươm tất. Câu này có ý biện minh cho những việc cố công làm nhà cửa và xây sinh phần trong phong tục của người Việt-Nam. Cũng có ý khuyên con cháu nên lo cho cha mẹ, ông bà về nơi cư trú khi sống và nơi an nghỉ khi qua đời);

4- Sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách (tịch sàng là chiếu giư��?ng; quan quách là hòm chôn người. Ca ngợi và khuyến khích tình nghĩa keo sơn giữa vợ chồng);

5- Chết vinh hơn sống nhục = Sống đục sao bằng thác trong (mạng sống là trong, nhưng cũng có khi con người phải chọn cái chết để bảo toàn danh dự);

6- Chết bờ chết bụi = Chết đường chết chợ (cực tả cảnh khốn cùng không nhà cửa, không người thân, lúc cuối đềi của những người bất hạnh);

7- Thập tử nhất sinh (trong hoàn cảnh nguy hiểm, mu��?i phần chết một phần sống);

8- Chạy bán sống bán chết (chạy thoát thân trong hoàn cảnh vừa nguy hiểm vừa khẩn cấp);

9- Chết đứng như Từ Hải (gặp chuyện bất ngờ khó xử, không biết phải nói năng đối phó ra sao, chỉ đứng lặng thinh; cũng nói là "đứng chết trân");

10- Sống vất sống vưởng (cực tả cảnh sống khổ cực lê la của một người khốn cùng).


Còn nhiều câu nữa, nhưng bao nhiêu đó nghĩ cũng tạm đủ để biện biệt. Năm câu đầu (1-5) có ý khuyên bảo; năm câu sau (6-10) chỉ mô tả. Những câu đầu là "tục ngữ"; những câu sau là "thành ngữ".

Thật ra, ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ không luôn luôn rõ ràng như đối với những câu vừa nêu. Chẳng hạn, những câu sau đây là tục ngữ hay chỉ là thành ngữ?


- Chết lỗ chân trâu = Chết vũng trâu nằm = Đi năm sông bảy suối về chết lỗ chân trâu: Câu này có ý phàn nàn cho một người có khả năng, có kinh nghiệm sống, mà phải chịu thất bại, trong một hoàn cảnh không đáng. Tuy cũng có ý khuyên phải thận trọng trong những lúc tưởng là dễ dàng, nhưng ý khuyên không rõ ràng. Lời khuyên chỉ rõ ràng khi có ngữ cảnh hỗ trợ: - Tôi biết tài anh, nhưng anh không nên quá coi thường kẻ địch, coi chừng chết lỗ chân trâu đấy!


- Vào sinh ra tử: Khi chưa có ngữ cảnh, mấy chữ này chỉ diễn tả cảnh chiến đấu cực kỳ nguy hiểm của một người dám đem mạng sống của mình ra thử thách. Nhưng nếu mục đích chiến đấu không cao cả, thì không ai đem câu này mà gán cho. Mới nghe, thì ý nghĩa có vẻ trung tính (neutral, neutre), nhưng thật ra cũng có ý tán dương. Trong thông dụng, người nói chỉ cầu viện đến những chữ này khi cần khen chê: - Anh ấy đã biết bao lần vào sinh ra tử để cứu bạn đồng đội; - Hai người đã từng vào sinh ra tử với nhau, mà bây giờ coi nhau như kẻ thù.



Về mặt cú pháp, tục ngữ là nhóm chữ lồng trong câu, nhưng cũng có thể tự mình làm thành câu riêng. Nhiều tục ngữ có cấu trúc chủ ngữ (sujet) - vị ngữ (prédicat). Sống lâu là chủ ngữ; hơn giàu lắm là vị ngữ. Thành ngữ thường không có cấu trúc đó. Sống vất sống vưởng là nhóm từ không có chủ ngữ.



Ở trên, chúng ta đã tách biệt tục ngữ từ thành ngữ nói chung. Chúng ta cũng đã tách biệt từ thành ngữ ra quán ngữ, và từ quán ngữ ra khởi ngữ và chuyển ngữ.


Dưới đây, chúng ta sẽ đề cập thêm đến những nhóm từ và những câu đồng dao có thể lẫn với thành ngữ, và những câu thường được gọi là tục ngữ nhưng đáng có tên gọi khác.

Trong tiếng Việt, có rất nhiều nhóm từ được hình thành theo phép tiệp âm, gọi là "từ láy". Nếu chỉ gồm hai chữ, như "lem nhem", "bập bõm", "khật khù", thì không ai gọi là thành ngữ. Nhưng một khi chúng tự nhân đôi thành nhóm bốn chữ, như "lem nhem luốc nhuốc", "bập bà bập bõm", "khật khù khật khưỡng", thì cũng có người gọi là thành ngữ. Theo ý tôi, chúng ta nên gọi là từ láy.


Có những nhóm từ trong những bài hát trẻ con (đồng dao) được lấy dùng trong chuyện người lớn, rồi lâu ngày có vẻ như thành ngữ. Chẳng hạn bốn chữ "dung giăng dung giẻ". Mấy chữ này nguyên là của bài đồng dao: Giung giăng giung giẻ, dắt trẻ đi chơi... Vệ sau, người ta dùng rộng, theo ý vui đùa: Sáng hôm qua, tôi gặp cô cậu ấy giung giăng giung giẻ ngoài phố. "Giung giăng giung giẻ" ở đây có nghĩa là vui vẻ nắm tay nhau đi chơi. Dù được dùng nhiều đến đâu, nhóm chữ này cũng không phải là thành ngữ.


Có sách ngữ pháp xếp câu "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" vào loại tục ngữ. Một cuốn ngữ pháp khác trích dẫn bốn chữ "cây quế giữa rừng" từ một truyện ngắn có ý phàn nàn cho một cô gái xinh đẹp nết na mà lấy phải một người chồng vũ phu, và gọi đó là thành ngữ. Tôi nghĩ đây chỉ là những trường hợp lẻ tẻ, chưa nên gọi là thành ngữ. Nên trả chúng về cho những bài ca dao nguyên thủy.


Và tiện đây, chúng ta cũng nên phân biệt tục ngữ với những câu gần giống: Cách ngôn, ngạn ngữ, danh ngôn, phương ngôn.

Một điểm cần nói n_: Trong phạm vi này, chữ "ngôn" và chữ "ngữ" là đồng nghĩa, có thể thay cho nhau được. Chúng ta quen nói như trên, nhưng vẫn có thể nói: Tục ngôn, cách ngữ, ngạn ngôn, danh ngữ, phương ngữ. "Ngôn" và "ngữ" ở đây đều có nghĩa lời nói.


Tục ngữ : Trong thông dụng, "tục ngữ" còn được gọi là "lời tục". "Tục" đây là "thế tục", không phải "thô tục". Thay vì nói "tục ngữ có câu", có thể nói "lời tục nói rằng".

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng là "tục ngữ. Nhưng "đen như mực", "sáng như đèn" là thành ngữ. Xin nhắc lại và nhấn mạnh: Tục ngữ có ý bình phẩm, phê phán, khuyên bảo, hướng dẫn. Thành ngữ chỉ mô tả, đánh giá, thường là qua so sánh.


Cách ngôn : Chắc các bạn cao tuổi còn nhớ những ngày còn học ở bậc sơ học? Hằng ngày, trên bảng đen, ngoài nhóm chữ ghi số học sinh, số hiện diện, số khiếm diện, và ngày tháng, thầy giáo còn ghi những câu, đại để như: - Tiên học lễ, hậu học văn; - Đói cho sạch, rách cho thơm... Trong những cuốn luân lý, tập đềc, cũng có ghi những cây ấy. Đây là những câu cách ngôn.

"Cách" có nghĩa là "cách thức". Cách ngôn là lời nói mẫu mực, đáng noi theo.

Ngạn ngữ : Là lời của người xưa còn truyền lại. Tất nhiên phải là "lời hay ý đẹp", chớ chỉ là xưa không thôi, thì xưa mấy cũng không đủ. Chẳng hạn câu "Chích khuyển phệ Nghiêu" (Chó của tên Chích sủa vua Nghiêu; ý nói ai có chủ nấy; vua Nghiêu là bậc vua thánh, nhưng con chó kia chỉ coi một mình Đạo Chích là chủ, nên sủa vua Nghiêu). Câu này chỉ có nghĩa thực dụng, không được coi là "ngạn ngữ". Nhưng những câu sau đây thì được coi là ngạn ngữ: - Điểu tận cung tàng, thố tử cẩu phanh (Hết chim thì cung bị đem cất, thọ chết thì chó săn bị làm thịt; ý nói thói đềi bội bạc); - Phú nhuận ốc, đức nhuận thân (Của cải làm cho nhà cửa thành đẹp đẽ; đức độ khiến con người trở nên tươi tắn).


Không có qui luật nào qui định, nhưng thường được coi là ngạn ngữ những câu ý nghĩa thật hàm súc. Cụ thể là những câu không dài lắm.



Danh ngôn: Là những lời nói hay và đúng đến mức sâu sắc, được truyền tụng, được người đương thọi và hậu thế nhắc lại. Danh ngôn là của danh nhân. Một lời nói tuy hay, nhưng của một người không nổi tiếng, khó trở thành danh ngôn. Cũng vậy, một người nổi tiếng, nhưng lúc ngẫu hứng nói một câu gì đó, xảo diệu về mặt trí thuật thì có, nhưng mẫu mực về đạo hạnh thì không, thì lời ấy cũng không được coi là danh ngôn. Người ta có trích dẫn thì cũng là để cười chơi mà thôi.


Một đặc điểm của danh ngôn, có thể dùng để phân biệt với cách ngôn, ngạn ngữ, là biết người phát biểu. Trích dẫn danh ngôn, luôn luôn phải ghi tên người nói, có khi còn phải ghi hoàn cảnh nói nữa. Tóm lại, tục ngữ, cách ngôn, ngạn ngữ là khuyết danh, nhưng danh ngôn là của riêng một người. Cũng như ca dao là của chung, nhưng những câu thơ dù có nhiều phong vị dân gian mà biết được tác giả là ai, thì vẫn không xếp vào ca dao được.

Phương ngôn: Ngày nay, có một số từ điển và sách ngữ pháp dùng từ này để gọi tiếng riêng của một địa phương, giống như từ "phương ngữ". Sách của người Trung-Quốc cũng dùng "phương ngôn" theo nghĩa này.

Nhưng ngày trước, chúng ta đã dùng từ "phương ngôn" theo nghĩa "danh ngôn". Trường hợp này, nếu viết chữ Hán, chữ "phương" phải viết với bộ "thảo", có nghĩa là "thơm". Phương ngôn là lời nói thơm tho, đậm vị đạo đức, đáng lưu truyền.



Những câu tục ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn... đều là thành phần cố cựu của tiếng Việt. Nhưng cũng giống như tiên tổ cao đềi đối với con cháu ngày nay, biết là dòng dõi, nhưng không biết kỹ. Có khi còn hiểu sai.

Xin dẫn một ít trường hợp phổ biến:

- Nghe bốn chữ "đầu tắt mặt tối", ai cũng hiểu là ý muốn nói "làm việc quần quật suốt ngày", nhưng "mặt tối" thì còn luận nghĩa được (là bận "tối tăm mặt mũi" chăng?), còn "đầu tắt" là cái gì?



- Để chỉ một cách nói năng cộc lốc, nghe không thuận tai, người ta hay dùng thành ngữ "dùi đục chấm mắm cáy". Nhưng ai lại lấy cái "dùi đục" mà chấm vào mắm làm gì?



(Dùi đục là một dụng cụ thợ mộc và cũng là vật gia dụng, bằng gỗ thật cứng [trắc chẳng hạn], to bằng bắp tay, dài hơn hai gang, dùng đánh lên cán đục để lưỡi đục xắn vào gỗ. Tục ngữ có câu: Dùi đánh đục, đục đánh săng [săng là gỗ]. Nghĩa bóng là cấp cao ép xuống cấp giữa, cấp giữa ép xuống cấp dưới).

Có phải nguyên thủy câu này là "dùi đục giã mắm cáy", rồi lâu ngày chuyển biến thành ra khó hiểu chăng?

Trong bếp của người Việt ngày xưa, dùng để giã tiêu, giã cua... người ta có một cái cối nhỏ bằng sành hoặc bằng gỗ, và một cái chày gỗ, hình dáng và kích thước cũng tương tự như cái dùi đục của thợ mộc. Trong lúc cần giã thứ gì đó, mà chỉ có cái cối, thì người ta cũng có thể lấy dùi đục làm chày, cũng giống như tạm dùng cán dao vậy. Dùi đục đầu không tròn như chày, tất nhiên kết quả không tốt: Giã cáy thì cáy không nhuyễn, lại khua lộp cộp không êm. Chẳng khác mấy với những lời lẽ thô kệch, không lọt tai thiên hạ.

- Để tả dáng đi lảo đảo, xiêu vẹo, chân nọ vấp vào chân kia của người say rượu, người ta hay dùng thành ngữ "chân nam đá chân xiêu", hoặc "chân đăm đá chân chiêu". "Đăm", "chiêu" đều là từ cổ, có nghĩa là "bên mặt", "bên trái". "Chân đăm đá chân chiêu" có nghĩa chân mặt vấp vào chân trái. "Nam" và "xiêu" trại ra từ "đăm" và "chiêu".


Nhưng ngày nay, chúng ta có từ ghép "đăm chiêu" để tả dáng vẻ của một người đang lắng trí suy tư. Sự chuyển nghĩa thật là khó hiểu. Tại sao nguyên nghĩa là "bên phải bên trái" mà lại có thể chuyển thành "suy nghĩ"? Có phải suy nghĩ nhiều quá, đến nỗi quên cả ngoại cảnh, không để ý gì đến bên trái bên mặt của mình không? Xin thử đặt một câu "giả tưởng": - Kẻ cuồng sĩ ngồi trầm ngâm bên án thư suốt mấy trống canh, không lý gì đến hai phía đăm chiêu.

Qua nhiều đời, "suy nghĩ nhiều = không đăm chiêu" biến thành "đăm chiêu = suy nghĩ". Có lý chăng?

Dù sao, từ cái dáng đi như muốn ngã mà trở thành trầm lắng suy tư, tức là đã đổi từ vật chất sang tinh thần, từ anh say rượu thành nhà hiền triết, rõ ràng là biến dở thành hay. Vậy, chúng ta cứ yên tâm dùng "đăm chiêu" theo nghĩa ngày nay, không cần bận tâm tới cái xuất xứ của nó nữa.

- Ngày nay ai cũng hiểu thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" (hoặc gần hơn: lang bạt) theo nghĩa "rày đây mai đó". Nhưng nghĩa nguyên thủy của mấy chữ này khác hẳn, gần như ngược lại.

Đây là một thành ngữ của cổ văn Trung-Quốc. Kinh Thi có câu tả dáng một con sói già như vầy: Lang bạt kỳ hồ, tái trí kỳ vĩ (sói bước tới thì đạp cái yếm cổ, bước lui thì vướng cái đuôi). Cũng giống như mấy chữ "tấn thối lưỡng nan". Du nhập vào tiếng Việt, nghĩa gốc mất hẳn. Chuyện của một con sói già được chuyển giao cho một con người trẻ (Có ai già mà còn lang bạt kỳ hồ nổi). Và nghe rất văn chương? Văn chương hơn cả câu "tang bồng hồ thỉ"!

- Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm: Gà con được chừng hơn tháng, ở đuôi có lú (nhú) ra mấy cái lông cứng trông giống như đuôi con tôm, gọi là "gà lú đuôi tôm". Qua giai đoạn này, gà mới trở thành "gà giò". Nhưng không hiểu sao, gà giò chỉ được kể là thịt ăn ngon, còn gà mà mọc đuôi tôm thì được coi là sung sướng vui chơi thỏa thích. Hễ chủ nhà đi vắng, thì gà thừa dịp mọc đuôi tôm ra. Hễ người lớn đi vắng, thì con nít tha hồ chơi đùa nghịch phá; hễ chủ đi vắng thì người làm ngồi chơi, bỏ bê công việc... Nghĩa bóng dễ hiểu, nhưng nghĩa đen không dễ. Lông đuôi của gà đến độ thì mọc, chớ đâu phải muốn mọc lúc nào cũng được?



Nghe hơi vô lý, nên đã có người chữa lại: Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Có lý hơn một chút, nhưng cũng chưa phải là hoàn toàn. Niêu tôm ở đâu mà sẵn để cho gà vọc như thế? Lại chữa lần nữa: Vắng chủ nhà gà bươi bếp. Nghe rất có lý, nhưng hiền lành, vì thường thấy quá.

- Theo quan niệm cũ, hai bên thông gia cân xứng với nhau về gia thế, thì được gọi là "môn đăng hộ đối". Nhiều người nói như vậy. Nhưng như vậy là trật đấy các bạn. Phải là "môn đương hộ đối" mới đúng chữ. Chữ "đương" này có thể đọc là "đang", nhưng không thể đềc là "đăng".


"Môn" là cửa lớn, "hộ" là cửa nhỏ; "đương" và "đối" đều có nghĩa là địch lại được. Bên nhà trai có "môn" thì bên nhà gái phải có "môn" để đương lại; bên nhà gái có "hộ" thì bên nhà trai phải có "hộ" để đối lại. Nếu không, thì không đương đối. Như trong cuộc đấu phú với Vương Khải, Thạch Sùng thiếu cái mẻ kho, không đương đối, thành phải thua vậy.


Tuy nhiên, "môn đăng hộ đối" nghe đã quen tai. Bạn nào không thích đổi, thì xin cứ nói như cũ. Cái sai cũng chẳng có gì nghiêm trọng.







Về vần điệu của những câu thành ngữ, tục ngữ...

Tiếng Việt nhiều âm điệu, người Việt thích làm thơ, thích cách nói cân xứng, nên những câu truyền thống của chúng ta nhiều câu có vần, có đối; nếu không, thì cũng phải nhịp nhàng, để nghe cho thuận tai.

Có đối: Dài lưng tốn vải; ngồi không ăn sẵn; văn hay chữ tốt; sáng tai họ điếc tai cày; có công mài sắt có ngày nên kim.

Có vần: Dây cà ra dây muống; đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ; biết thì thưa thì thốt, không biết thì dựa cột mà nghe; đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.



Có vần có đối: Năm cha ba mẹ; già đòn non lẽ; của chồng công vợ; sai một li đi một dặm; ăn theo thuở ở theo thời.



Câu đặt có vần, có đối thì đọc lên nghe êm tai. Nhưng trong thực tế, sự chuộng thuận âm cũng có khi làm cho khó hiểu.

Nghe câu "cái nết đánh chết cái đẹp", ai cũng hiểu theo nghĩa đối với người đàn bà, đức hạnh quan trọng hơn dung nhan. Nhưng sao không nói "cái nết quí hơn cái đẹp" mà lại phải dùng chữ "đánh chết"? Nói như vậy, không sợ có người hiểu lầm rằng đàn bà hễ có nết na thì nhan sắc mất đi hay sao? Chẳng qua người đặt muốn dùng chữ "chết" để cho có vần với chữ "nết" phía trước.

Nghe câu "già kén kẹn hom", ai cũng nghĩ n_ đến trường hợp của một người (thường là đàn bà) quá khó tính trong việc chọn lựa người bạn trăm năm, cuối cùng phải sống cô độc, hoặc gặp phải một người phối ngẫu không ra gì. Nghĩa bóng là như thế, xưa nay không ai thắc mắc. Nhưng câu này chắc chắn có nghĩa đen. Vệ nghĩa đen, "già kén" có nghĩa là "để kén tằm quá lâu trên hom, không gỡ đem ươm đúng ngày"; nhưng "kẹn hom" nghĩa là gì? Có phải là "làm vướng hom, khiến hom không đủ chỗ cho lứa tằm chín tiếp theo lên làm kén không"? "Kẹn" có thể là chữ cổ, có nghĩa là "chật", nhưng không lấy gì làm chắc. Tóm lại câu "già kén kẹn hom" đã thông dụng theo nghĩa ước lệ, nhưng truy nguyên, cũng không chắc hiểu đúng. Chẳng qua từ đềi thuở nào, người đặt muốn dùng chữ "kẹn" để có vần với chữ "kén", không lường được chuyện con cháu đềi sau không hiểu nổi chữ ấy.

Thử đối chiếu với một câu cấu trúc rất giống và nghĩa khá gần: - Già néo đứt dây. Muốn gộp nhiều cây gỗ thành một bó chặt, hoặc kéo hai cây trụ lại gần nhau, mà sức tay không không làm nổi, người ta buộc một vòng dây thật bọn rồi dùng một đoạn cây ngắn mà xoắn, càng xoắn thì càng chặt, nhưng nếu xoắn quá mức thì dây sẽ đứt. Làm như vậy, tiếng nhà nghọ gọi là "néo"; "già néo" là néo quá căng. Rút kinh nghiệm từ một công việc cụ thể, ông bà chúng ta khuyên con cháu không nên quá găng trong cách khu xử, để tránh đổ vỡ, tránh họng việc.

Thử đặt một giả thuyết: Nếu như với câu này, người nói cũng chuộng hình thức, muốn cho chữ "néo" có vần với một chữ đi sau, thì câu có thể là "già néo nẹo dây", và ngày nay, chúng ta cũng phải tìm hiểu xem chữ "nẹo" có phải là chữ cổ và có nghĩa là đứt hay không.

Cũng may, trong số thành ngữ tục ngữ, những câu vì có vần mà trở nên khó hiểu cũng không bao nhiêu. Gặp những trường hợp ấy, chúng ta chỉ nên dùng và hiểu theo nghĩa bóng đã được mọi người chấp nhận, không cần mất công tìm về tận gốc.



Tuy nhiên, không phải tất cả những chữ nghe lạ tai đều khó hiểu đối với mọi ngư;ời. Có thể trong thông dụng không gặp, nhưng trong tự điển có. Có thể người miền này không hiểu, nhưng người miền khác hiểu. Chẳng hạn, với câu "khôn sống mống chết", các tự điển đã chú nghĩa "mống" là "dại; với câu "khôn cho người dái dại cho người thương", các tự điển đã chú nghĩa "dái" là "nể sợ". Người miền Nam nghe câu "ăn nên đọi, nói nên lời" có thể lấn cấn với chữ "đọi", nhưng người Huế thì hiểu n_ là "bát".

Ngoài ra, còn có những trường hợp trong câu chữ nào cũng thông dụng, nhưng vì chúng đổi chỗ cho nhau, hoặc nguyên là đi cặp bây giờ tách ra, nên trở thành khó hiểu.

Chúng ta quen nói "lời ăn tiếng nói", rồi vì quá quen, không thắc mắc "lời ăn" là gì. Điểm lạ tai này do việc tách chữ: "Ắn" và "nói" nguyên đi cặp với nhau thành "ăn nói", và chữ "ăn" mất nghĩa đi, chỉ còn chữ "nói" giữ nghĩa; "ăn nói" tức là "nói". Nếu đặt theo kiểu không tách chữ, thì câu sẽ là "lời tiếng ăn nói". Nhưng nói như vầy, nghe sao thuận tai?

Chúng ta quen nói "vạch mặt chỉ tên", nhưng có thể nguyên thủy câu này là "chỉ mặt vạch tên"; cũng như câu "ăn không ngồi rồi" (rồi = rỗi), có thể nguyên thủy là "ngồi rồi ăn không". Dùng quen, người đều sau đảo lại cho thuận miệng.

Đặc tính của cách nói thuận miệng có cả hay lẫn không hay. Hay là nghe nhịp nhàng linh động. Không hay là mở cửa cho cách nói buông tuồng. Chẳng hạn như từ câu "bán trời không văn tự", người thích kiểu nói thuận miệng liền đổi ra câu "bán trời không mời thiên lôi"; từ câu hai vế "khôn cho người đoái, dại cho người thương", có người đã kéo thêm vế thứ ba "đừng dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét".

Tìm hiểu về Tục ngữ và thành ngữ:

Bài viết SDD trích dẫn rất hay và đầy đủ, nhưng dài quá. Người không quan tâm đến vấn đề sẽ rất ngại chẳng muốn đềc nữa. Một vấn đề nêu ra nên đưa ra tóm tắt thôi hoặc nêu những ý nhấn mạnh về vấn đề cần quan tâm. Như vậy sẽ giúp người đềc bất kỳ có thể nắm bắt được thông tin nhanh chóng, hay nói vui gọi là "áp dụng Toán học trong Văn học" cho dễ hiểu.

Tóm lại:

Theo Giáo sư Vũ Ngọc Phan
- Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán.

- Thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn

Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh. Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ. Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em. Vì thành ngữ qua thọi gian đã được tập hợp thành cụm.

VD:

"Áo rách, quần manh", "Ăn trắng, mặc trơn", "Ăn trên, ngồi trốc", "Dốt đặc cán mai", "Cá bể, chim ngàn", "Bụng đói, cật rét".... đều là thành ngữ.

Còn "Bệnh quỷ thuốc tiên", "Người chửa, cửa mả"... đều là tục ngữ.

Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân ca ra. Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa), (Chữ ngạn có nghĩa là lời nói của người xưa). Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất... Nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người ta trong sự nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đềi. Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ.

Trong tục ngữ có cả thành ngữ: "Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi", thì "xỏ chân lỗ mũi" là thành ngữ.

(Vũ Ngọc Phan - Nhà xuất bản Văn học).



www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:57:06  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote

TỤC-NGỮ

Định nghĩa và biệt loại:

Tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói ngắn, gọn, giàu ý nghĩa, được dùng trong lời nói hàng ngày và lưu truyền từ đời nọ qua đời kia. Tục ngữ còn được gọi là ngạn ngữ (lời người xưa truyền lại).

Có ý nghĩa hẹp hơn tục ngữ là:

Phương ngôn:
Những câu tục ngữ được dùng trong một vùng, một địa phương chứ không phổ biến khắp nước.

Cách ngôn, Châm ngôn:
Những câu tục ngữ có ý khuyên dạy luân lý ("cách" là phương thức, "châm" là lời răn bảo).

Thành ngữ:
Một loại tục ngữ đặc biệt, tự nó chưa có ý nghĩa đầy đủ. Thành ngữ chỉ là những cách nói đã định sẵn (set expressions) để mô tả sự vật chứ không biểu thị một ý phán đoán hay khuyên răn nào. Chẳng hạn:

Đàn gảy tai trâu

Đáy bể mò kim

Nói hươu nói vượn

Gần đất xa trời

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa

Ngậm bồ hòn làm ngọt

Cảnh trứng chọi với đá

Chốn miệng hùm nọc rắn

Xứ tiền rừng bạc biển...

Trong các thành ngữ, có những câu diễn ý so sánh hai sự vật để làm nổi bật việc mô tả, được gọi là những Câu ví. Chẳng hạn:

Lạnh như tiền

Thẳng như ruột ngựa

Chắc như đinh đóng cột

Dốt đặc cán mai

Lúng túng như thợ vụng mất kim...

Nguồn gốc của tục ngữ:

Phần lớn các tục ngữ nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Ban đầu, có khi chỉ là một câu nói thường nhưng nhờ có ý nghĩa xác đáng, lời lẽ cô đọng, dễ nhớ, được người khác thích thú, nhắc đi nhắc lại. Dần dần, câu nói được trau chuốt và phổ biến rộng hơn.

Có những câu vốn là thơ ca có tác giả nhưng nhờ ý đúng, lời hay, được nhiều người lưu tâm một cách đặc biệt rồi tách riêng để truyền tụng. Những câu như Thương người như thể thương thân trong Gia huấn ca (tương truyền của Nguyễn Trãi), Khi nên trời cũng chiều người, hay Chữ "tài" liền với chữ "tai" một vần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du... có thể xếp vào loại này.

Có những câu tục ngữ được dịch từ ngạn ngữ nước ngoài như:

Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện - Trung hoa

Có công mài sắt, có ngày nên kim (Ma chử thành châm - Trung hoa)

Lửa cháy đổ dầu thêm (Hỏa thượng thiêm du - Trung hoa)

Thời giờ là tiền bạc (Time is money - Anh)

Muốn là được (Vouloir, c'est pouvoir - Pháp)

Hình thức của tục ngữ:

Trong tục ngữ có những câu:

Không vần, chỉ có ý đối:

Giơ cao, đánh sẽ

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

No nên bụt, đói ra ma

Không vần, không đối, chỉ cốt ý đúng, lời gọn:

Mật ngọt chết ruồi

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Nhưng phần lớn tục ngữ là những câu có vần, thường là vần lưng (yêu vận):

Ăn cây nào rào cây ấy

Phép vua thua lệ làng

Con có cha như nhà có nóc

Một giọt máu đào hơn ao nước lã

Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy

Đôi khi có những câu thêm cả vần chân (cước vận):

Khôn cho người rái,

Dại cho người thương,

Dở dở ương ương,

Tổ cho người ghét.


CA DAO



Định nghĩa và biệt loại:

Ca dao (ca: bài hát thành chương khúc; dao: bài hát ngắn, không thành chương khúc) là những câu hát theo giọng điệu tự nhiên lưu hành trong dân gian, thường diễn tả ý nghĩ, tình cảm, nếp sinh hoạt của đại chúng bình dân. Ca dao còn được gọi là phong dao ("phong" là phong tục). Người xưa cho rằng qua ca dao có thể nhận biết phong tục tốt, xấu của một xứ, một vùng.


Một biệt loại khá quan trọng của ca dao là đồng dao ("đồng": trẻ con). Đồng dao là những bài hát dành cho trẻ con, toàn bài nhiều khi chỉ là một số câu có vần ghép lại với nhau, không có ý nghĩa rõ rệt. Tuy nhiên, đồng dao có thể giúp trẻ học một số danh từ về các vật thường gặp. Chẳng hạn:


Dung dăng dung dẻ

Dắt trẻ đi chơi

Đến cửa nhà trời

Lạy cậu lạy mợ

Cho cháu về quê

Cho dê đi học

Cho cóc ở nhà

Cho gà bới bếp...


hay:


Cái bống đi chợ cầu Canh

Cái tôm đi trước, củ hành đi sau

Con cua lật đật theo hầu

Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.


Một số biệt loại nữa của ca dao là các bài hát ru em, các bài vè, và các câu đố.


Vè là một loại ca dao có tính cách thời sự và địa phương, làm ra nhân một việc xảy ra tại địa phương khiến dư luận xôn xao. Vè thường nhằm mục đích chỉ trích, chế giễu.


Không có ranh giới rõ rệt giữa ca dao và dân ca. Có thể coi ca dao là phần lời thơ của các bài dân ca.

Ca dao khác tục ngữ ở chỗ - theo định nghĩa - ca dao có thể hát lên được (tục ngữ: câu nói; ca dao: câu hát). Trong ca dao, vần điệu rõ rệt và âm hưởng êm ái hơn. Nói chung, câu ca dao dài hơn câu tục ngữ, và thường có nhiều câu hợp lại thành bài.

Xét theo nội dung, tục ngữ thường là những nhận xét thuộc phạm vi lý trí trong khi ca dao là tiếng nói của tình cảm. Tuy nhiên, sự phân biệt này cũng không được chặt chẽ cho lắm: nhiều câu ca dao cũng thuộc phạm vi lý trí.


Cách kết cấu của ca dao:

Các học giả lớp trước thường theo Kinh Thi của Trung hoa mà phân biệt ba lối kết cấu (lập ý, dàn ý) của ca dao là: phú, tỉ, và hứng.



Phú: là phô bày, mô tả, nói thẳng vào sự việc. Chẳng hạn:


Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô!


hay:


Ngang lưng thì thắt bao vàng

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài

Một tay thì cắp hỏa mai

Một tay cắp dáo quan sai xuống thuyền

Thùng thùng trống đánh ngũ liên

Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...


Tỉ: là ví, so sánh, mượn một sự vật khác để ngụ điều mình muốn nói. Chẳng hạn:


Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn


hay:

Nực cười châu chấu đá xe

Tưởng rằng chấu nát, ai dè xe nghiêng.


Hứng: là nổi lên, trổi dậy, nhân một sự vật bên ngoài mà ý tưởng, tình cảm chính bộc lộ ra. Chẳng hạn:


Quả cau nho nhỏ

Cái vỏ vân vân

Nay anh học gần

Mai anh học xa

Tiền gạo là của mẹ cha

Cái nghiên, cái bút thực là của em


hay:


Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.


Cũng có bài ca dao kết cấu theo nhiều lối khác nhau như:

* Vưà phú vưà tỉ:


Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn


Ba câu trên tả hoa sen (phú), câu cuối ví hoa sen với người quân tử (tỉ).

* Vừa phú vừa hứng:


Rủ nhau xuống bể mò cua

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Ai ơi chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau!


Ba câu trên nói những nỗi gian nan, từng trải qua cảnh sướng khổ cùng nhau của hai vợ chồng (phú), nhân đó đưa tới ý chính trong câu cuối cùng (hứng).

* Vừa tỉ vừa hứng:


Dao vàng bỏ đãy kim nhung

Biết người quân tử có dùng ta chăng?


Ý chung cả hai câu là nhân chuyện dao vàng mà nghĩ đến mình (hứng).

Riêng câu trên ví mình với con dao vàng (tỉ).

* Kiêm cả ba lối:


Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

- Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!

Ba đồng một mớ trầu cay

Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng

- Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ!

Chim vào lồng biết thuở nào ra!


Ba câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 4 thành "hứng", ba câu cuối là "tỉ"

hay:


Sơn bình, Kẻ Gốm không xa

Cách một cái quán với ba quãng đồng

Bên dưới có sông,

Bên trên có chợ

- Ta lấy mình làm vợ nên chăng?

Tre già để gốc cho măng.


Bốn câu đầu là "phú", chuyển sang câu thứ 5 thành "hứng", riêng câu cuối là "tỉ".


Hình thức của ca dao:


Số câu trong bài:

Số câu trong một bài ca dao không nhất định. Ca dao có ít nhất hai câu, thông thường từ 4, 5 đến 9, 10 câu. Tuy nhiên, trong những lối hát đối đáp (giao ca), một bài có thể kéo dài vô hạn định tùy khả năng nối tiếp và bắt vần của những người tham dự cuộc hát.


Số chữ trong câu:

Số chữ trong câu ca dao cũng không nhất định. Đại để ca dao thường làm theo các thể sau đây:

* Nói lối (mỗi câu 4 chữ):


Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Lấy đầy bát cơm

Lấy rơm đun bếp


* Lục bát chính thức:


Trúc xinh trúc mọc bờ ao

Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh

Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.


* Lục bát biến thể:


Công anh đắp nấm trồng chanh

Chẳng được ăn quả, vin cành cho cam

Xin đừng ra dạ bắc nam

"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề"

Huống "tam thu nhi bất kiến hề"

Đường kia nỗi nọ như chia mối sầu

Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu

Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia


(Các câu 5 và 7 có 7 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 6)

* Song thất lục bát chính thức:


Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc

Con chàng còn trứng nước thơ ngây

Có hay chàng ở đâu đây

Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng.


* Song thất lục bát biến thể:


Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!


(Câu 4 có 8 chữ trong khi đáng lẽ chỉ có 7)

* Phối hợp nhiều thể khác nhau:

Các bài "Quả cau nho nhỏ..." và "Sơn bình, Kẻ Gốm không xa..." nhắc đến ở trên. Ta cũng có thể kể thêm bài sau đây:


Từ khi gặp mặt giữa đàng

Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay

Có hay thì nhất đánh nhì đày

Hai lẽ mà thôi

Thủy chung em giữ trọn mấy lời

Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa.




www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

347 Posts

Posted - 04/17/2008 :  10:59:53  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote


Phân loại cụm từ cố định

Mặc dù có nhiều điểm giống nhau về nguyên tắc, nhưng cách xây dựng, tạo lập cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn như nhau. Vì thế, cụm từ cố định trong các ngôn ngữ khác nhau có thể được phân loại khác nhau. Chẳng hạn, N.M. Shanskij (1985) đã phân loại các cụm từ cố định trong tiếng Nga hiện đại như sau:

Phân loại theo mức độ tính chất về ngữ nghĩa: tách ra 5 loại;
Phân loại theo đặc điểm các từ trong thành phần của cụm từ cố định: tác ra 4 loại;
Phân loại theo mô hình cấu trúc: tách ra 16 loại;
Phân loại theo nguồn gốc: tách ra 6 loại.
Việc nghiên cứu cụm từ cố định của tiếng Việt tuy chưa thật sâu sắc và toàn diện nhưng đã có không ít kết quả công bố trong một số giáo trình giảng dạy trong nhà trường đại học và tạp chí chuyên ngành.

Nếu tạm thời chấp nhận tên gọi mà chưa xác định n_ nội dung khái niệm của chúng, thì có thể tóm tắt một trong những bức tranh phân loại cụm từ cố định tiếng Việt như sau:



Dưới đây là một số miêu tả cụ thể:

1. Thành ngữ
1.1. Định nghĩa
Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm.

Ví dụ: Ba cọc ba đồng, Chó cắn áo rách, Nhà ngói cây mít, Bán bò tậu ễnh ương, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Ông mất của kia bà chìa của nọ, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông,...

Các cụm từ cố định (thành ngữ) như thế đều thoả mãn định nghĩa nêu trên. Chúng là những thành ngữ điển hình.

1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại thành ngữ. Trước hết, có thể dựa vào cơ chế cấu tạo (cả nội dung lẫn hình thức) để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ.

1.2.1. Thành ngữ so sánh
Loại này bao gồm những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Cưới không bằng lại mặt,...

Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác:

A ss B: Ở đây A là vế được so sánh, B là vế đưa ra để so sánh, còn ss là từ so sánh: như, bằng, tựa, hệt,...

Tuy vậy, sự hiện diện của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt khá đa dạng, không phải lúc nào ba thành phần trong cấu trúc cũng đầy đủ. Chúng có thể có các kiểu:

A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: Đắt như tôm tươi, Nhẹ tựa lông hồng, Lạnh như tiền, Dai như đỉa đói, Đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, Lừ đừ như ông từ vào đền,...

(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ không nhất thiết phải có mặt. Nó thể xuất hiện hoặc không, nhưng người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (Rẻ) như bèo, (Chắc) như đinh đóng cột, (Vui) như mở cờ trong bụng, (To) như bồ tuột cạp, (Khinh) như rác, (Khinh) như mẻ, (Chậm) như rùa,...

ss.B: Trường hợp này, thành phần A không phải của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ:

Ăn ở với nhau
Xử sự với nhau
Giữ ý giữ tứ với nhau
... như mẹ chồng với nàng dâu

Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: Như tằm ăn rỗi, Như vịt nghe sấm, Như con chó ba tiền, Như gà mắc tóc, Như đỉa phải vôi, Như ngậm hột thị,...

Đối với thành ngữ so sánh tiếng Việt, có thể nêu một vài nhận xét về cấu trúc của chúng như sau:

Vế A (vế được so sánh) không phải bao giờ cũng buộc phải hiện diện trên cấu trúc hình thức, nhưng nội dung của nó thì vẫn luôn luôn là cái được "nhận ra". A thường là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc trưng hoặc trạng thái hành động,... nào đó. Rất ít khi chúng ta gặp những khả năng khác.
Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; còn những từ so sánh khác, chẳng hạn như tựa, tựa như, như thể, bằng, tày,... (Gương tày liếp, Tội tày đình, Cưới không bằng lại mặt,...) chỉ xuất hiện hết sức ít ỏi.
Vế B (vế để so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, nhiều khi nó lại chỉ bộ lộ ý nghĩa của mình trong khi kết hợp với A, thong qua A. Ví dụ: Ý nghĩa "lạnh" của tiền chỉ bộ lộ trong Lạnh như tiền mà thôi. Các thành ngữ Nợ như chúa Chổm, Rách như tổ đỉa, Say như điếu đổ, Say khướt cò bợ,... cũng tương tự như vậy.
Mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,... được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt. Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó.
Vế B có cấu trúc không thuần nhất:
B có thể là một từ. Ví dụ: Lạnh như tiền, Rách như tổ đỉa, Nợ như chúa Chổm, Đắng như bồ hòn, Rẻ như bèo, Khinh như mẻ,...
B có thể là một kết cấu chủ-vị (một mệnh đề). Ví dụ: Như đỉa phải vôi, Như chó nhai giẻ rách, Lừ đừ như ông từ vào đền, Như thầy bói xem voi, Như xầm sờ vợ,...
Ngoài những điều nói trên, khi đối chiếu các thành ngữ so sánh với cấu trúc so sánh thông thường của tiếng Việt, ta thấy:

Các cấu trúc so sánh thông thường có thể có so sánh bậc ngang hoặc so sánh bậc hơn. Ví dụ: Anh yêu em như yêu đất nước (so sánh bậc ngang), Dung biết mình đẹp hơn Mai (so sánh bậc hơn),...
Từ so sánh và các phương tiện so sánh khác (chỗ ngừng, các cặp từ phiếm định hô ứng,...) được sử dụng trong các cấu trúc so sánh thông thường, rất đa dạng: như, bằng, tựa, hệt, giống, chẳng khác gì, y như là, hơn, hơn là,...
Một vế A trong cấu trúc so sánh thông thường có thể kết hợp với một hoặc hai, thậm chí một chuỗi nhiều hơn các vế B qua sự nối kết với từ so sánh. Ví dụ:
Kết hợp với một B: Cổ tay em trắng như ngà /Đôi mắt em liếc như là dao cau.
Kết hợp với một chuỗi B: Những chị cào cào (...) khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.
Cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng, trong khi đó thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn và nếu có thì cũng biến dạng một cách giản dị như đã nêu trên. Lí do chính là ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa.
1.2.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ
Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở miêu tả một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu hiện ý nghĩa một cách ẩn dụ.

Xét về bản chất, ẩn dụ cũng là so sánh, nhưng đây là so sánh ngầm, từ so sánh không hề hiện diện. Cấu trúc bề mặt của thành ngữ loại này không phản ánh cái nghĩa đích thực của chúng. Cấu trúc đó, có chăng chỉ là cơ sở để nhận ra một nghĩa "sơ khởi", "cấp một" nào đó, rồi trên nền tảng của "nghĩa cấp một" này người ta mới rút ra, nhận ra và hiểu lấy ý nghĩa đích thức của thành ngữ.

Ví dụ: Xét thành ngữ "Ngã vào võng đào". Cấu trúc của thành ngữ này cho thấy:

– (Có người nào đó) bị ngã – tức là gặp nạn, không may;

– Ngã, nhưng rơi vào võng đào (một loại võng được coi là sang trọng, tốt và quý) tức là vẫn được đỡ bằng cái võng, êm, quý, sang, không mấy ai và không mấy lúc được ngồi, nằm ở đó.

Từ các hiểu cái nghĩa cơ sở của cấu trúc bề mặt nayf, người ta rút ra và nhận lấy ý nghĩa thực của thành ngữ như sau: Gặp tình huống tưởng như không may nhưng thực ra lại là rất may (và thích gặp tình huống đó hơn là không gặp bởi vì có lợi hơn là không gặp).

Căn cứ vào nội dung của thành ngữ miêu tả ẩn dụ kết hợp cùng với cấu trúc của chúng, có thể phân loại nhỏ hơn như sau:

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu một sự kiện. Trong các thành ngữ này, chỉ có một sự kiện, một hiện tượng nào đó được nêu. Chính vì vậy, cũng chỉ một hình ảnh được xây dựng và phản ánh. Ví dụ: Ngã vào võng đào, Nuôi ong tay áo, Nước đổ đầu vịt, Chó có váy lĩnh, Hàng thịt nguýt hàng cá, Vải thưa che mắt thánh, Múa rìu qua mắt thợ,...

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương đồng. Ở đây, trong mỗi thành ngữ sẽ có hai sự kiện, hai hiện tượng được nêu, được phản ánh. Chúng tương đồng hoặc tương hợp với nhau (hiểu một cách tương đối). Ví dụ: Ba đầu sáu tay, Nói có sách mách có chứng, Ăn trên ngồi trốc, Mẹ tròn con vuông, Hòn đất ném đi hòn chì ném lại,...

Những thành ngữ miêu tả ẩn dụ nêu hai sự kiện tương phản. Ngược lại với loại trên, mỗi thành ngữ loại này cũng nêu ra hai sự kiện, hai hiện tượng tương phản nhau hoặc chí ít cũng không tương hợp nhau. Ví dụ: Các thành ngữ Một vốn bốn lời, Méo miệng đòi ăn xôi vò, Miệng thơn thớt dạ ớt ngâm, Bán bò tậu ễnh ương, Xấu máu đòi ăn của độc,...

Bên cạnh việc phân loại thành ngữ tiếng Việt theo cơ chế cấu tạo và cấu trúc, còn có thể phân loại chúng theo số tiếng. Một nét nổi bật đáng chú ý ở đây là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%). Điều này có cơ sở của nó. Người Việt rất ưu lối nói cân đối nhịp nhàng và hài hoà về âm điệu. N_ ở bậc từ ta cũng thấy rằng hiện nay các từ song tiết (hai tiếng) chiếm tỉ lệ hơn hẳn các loại khác.

Và đến lượt mình, tỉ lệ 85% thành ngữ đó gây nên một áp lực về số lượng, khiến cho những cụm từ như: Trăng tủi hoa sầu, Tan cửa nát nhà, Tháng đợi năm chờ, Ăn gió nằm mưa, Lót đó luồn đây, Gìn vàng giữ ngọc,... nhanh chóng mang dáng dấp của các thành ngữ và rất hay được sử dụng.

2. Quán ngữ
Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ.

Ví dụ: Của đáng tội, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói tóm lại, Kết cục là, Nói cách khác,...

Thật ra, tính thành ngữ và tính ổn định cấu trúc của quán ngữ không được như thành ngữ. Dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này. Chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như một đơn vị có sẵn.

Có thể phân loại các quán ngữ của tiếng Việt dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của chúng, như sau:

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ: Của đáng tội, Khí vô phép, Khổ một nỗi là, (Nói) bỏ ngoài tai, Nói dại đổ đi, Còn mồ ma, Nó chết (một) cái là, Nói (...) bỏ quá cho, Cắn rơm cắn cỏ, Chẳng nước non gì, Đùng một cái, Chẳng ra chó gì, Nói trộm bóng vía,...

Những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận,...) hoặc diễn giảng như: Nói tóm lại, Có thể nghĩ rằng, Ngược lại, Một mặt thì, Mặt khác thì, Có nghĩa là, Như trên đã nói, Có thể cho rằng, Như sau, Như dưới đây, Như đã nêu trên, Sự thực là, Vấn đề là ở chỗ,...

Khó lòng có thể phân tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng. Tuy nhiên, sự tồn tại của những đơn vị gọi là quán ngữ không thể bỏ qua được, và chức năng của chúng có thể chứng minh được không khó khăn gì. Tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn về một bên nào, mặc dù ở từng quán ngữ cụ thể, có thể nặng về bên này mà nhẹ về bên kia một chút hay ngược lại.

3. Ngữ cố định định danh
3.1. Tên gọi này chúng ta tạm dùng (vì nó chưa thật chặt về nội dung) để chỉ những đơn vị vốn ổn định về cấu trúc và ý nghĩa hơn các quán ngữ rất nhiều, nhưng lại chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng như thành ngữ.

Chúng thực sự là các cụm từ cố định, nhưng được tạo dựng theo cách gần như cách tạo những từ ghép mà người ta vẫn hay gọi là từ ghép chính phụ. Chẳng hạn: Quân sư quạt mo, Anh hùng rơm, Kỉ luật sắt, Tuần trăng mật, Con gái rượu, Giọng ông kễnh, Tóc rễ tre, Mắt ốc nhồi, Má bánh đúc, Mũi dọc dừa,...

3.2. Thực chất đó là những cụm từ cố định, định danh, gọi tên sự vật. Trong mỗi cụm từ như vậy thường có một thành tố chính và một vài thành tố phụ miêu tả sự vật được nêu ở thành tố chính. Nó miêu tả chủ yếu bằng con đường so sánh nhưng không hề có từ so sánh. Thành tố chính thường bao giờ cũng là thành tố gọi tên.

Con đường tạo dựng những cụm từ như: Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt ốc nhồi, Mắt lợn luộc, Mắt bồ câu, Mắt lươn,... gần như đồng hình với con đường tạo dựng các từ ghép: đen xì, đen sẫm, đen trũi, đen láy, đen nhánh, đen xỉn,...

Chính bởi vậy, ở đây có hai xu hướng chuyển di ngược chiều nhau và thâm nhập vào nhau. Một số thành ngữ so sánh bị khử từ so sánh dễ được nhập vào số những cụm từ kiểu này: Ngang cành bứa, Cay xé, Dẻo kẹo, Đen thui, Trẻ măng,... Ngược lại, một số cụm từ vốn được tạo ra theo kiểu này, nhưng vì tính thành ngữ, tính hình tượng đạt tới mức độ gần tương đương với các thành ngữ thực sự, lai rất có thể dễ được nhận vào hàng ngũ của các thành ngữ: Ví dụ: Tuần trăng mật, Kỉ luật sắt, Con gái rượu, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Thẳng ruột ngựa, Toạc móng héo,...

3.3. Các ngữ cố định định danh thường tập trung với mật độ khá đậm ở khu vực tên gọi các bộ phận cơ thể con người như: Tóc rễ tre, Lông mày lá liễu, Lông mày sâu róm, Mắt lá răm, Mắt bồ câu, Mắt ốc nhồi, Râu ngạnh trê, Má bánh đúc, Mặt trái xoan, Mũi dọc dừa, Mồm cá ngão, Răng cải mả, Chân vòng kiềng, Chân chữ bát, Mặt lưỡi cày, Bụng cóc, Mình trắm,...

Một số ít hơn là tên gọi của các sự vật khác hoặc tên gọi của một trạng thái, thuộc tính. Chẳng hạn: Giọng ông kễnh, Đá tai mèo, Kỉ luật sắt, Gót sắt, Con gái rượu, Bạn áo ngắn, Sách gối đầu giường, Hòn đá thử vàng, Bạn nối khố, Cười cầu tài, Tấm lòng vàng, Bạn vàng, Toạc móng heo, Thẳng ruột ngựa,...

Rõ ràng là cơ chế cấu tạo những cụm từ trên đây không khác những cụm từ làm tên gọi cho một số sự vật, hiện tượng như: Than quả bàng, Bánh ca vát, Máy bay chuồn chuồn, Chuối tay bụt,... Chỉ có điều, tính thành ngữ của những cụm từ như thế thấp đến tận cùng mà thôi.

3.4. Cũng như tình trạng của quán ngữ, các cụm từ là ngữ cố định định danh có những biểu hiện không đồng đều nhau ở điểm này hoặc điểm khác. Rõ ràng là, nhìn chung, chúng ổn định cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa. Nhưng tính thành ngữ thì lại kém, thậm chí kém xa hoặc rất xa so với những thành ngữ chân chính. Tuy nhiên, chúng cũng không phải là từ ghép, nếu xét về bậc được cấu tạo. Chỉ có điều, việc cơ chế cấu tạo của chúng có phần giống với các từ ghép chính phục thì chúng ta phải thừa nhận.

Ở những mức độ khác nhau, chúng hiện diện như là đơn vị đứng giữa cụm từ cố định-thành ngữ với từ ghép.

4. Những hiện tượng trung gian
Việc phân loại các cụm từ cố định tiếng Việt như vừa trình bày trên đây không phải là đã vạch ra những ranh giới tuyệt đối giữa các loại, và không phải các đơn vị trong mỗi loại đều thể hiện những thuộc tính thuần khiết của loại. Chúng ta đã thấy là quán ngữ ít nhiều mang tính chất trung gian giữa cụm từ cố định với cụm từ tự do, còn ngữ cố định định danh thì có tính trung gian giữa cụm từ cố định với từ ghép.

Mặc dầu vậy, chúng vẫn là những cụm từ có tính cố định. Chỉ có điều tính cố định đó cao hay thấp, nhiều hay ít mà thôi.

Có thể coi các cụm từ cố định tiếng Việt có vùng tâm và vùng biên, có đơn vị điển hình và đơn vị không điển hình. Thành ngữ chắc chắn thuộc vùng trung tâm.

Thế nhưng, n_ ở khu vực thành ngữ cũng có những đơn vị trung gian được cấu tạo theo lối thành ngữ nhưng tính tự do, kém ổn định vẫn còn rõ nét.

Có những đơn vị đã đạt được tính thành ngữ khá cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể về cấu trúc lại còn kém ổn định. Nghĩa là số thành tố cấu tạo nên chúng có thể còn tăng hay giảm được một cách tuỳ nghi.

Rất nhiều cụm từ cấu tạo theo kiểu thành ngữ so sánh, là như thế: Nhức như búa bổ, Đắt như vàng, Gầy như gọng vó, Buồn như cha chết, Hôi như chuột chù, Bẩn như hủi, Lôi thôi như ổ chó,...

Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổ định về cấu trúc khá bảo đảm, tức là không thể thêm bớt các thành tố cấu tạo một cách tuỳ nghi, nhưng tính thành ngữ, tính nhất thể về nghĩa vẫn chưa cao. Nghĩa của cả cụm từ vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng lại. Ví dụ: Bàn mưu tính kế, Đi ra đi vào, Buôn gian bán lận, Suy đi tính lại, Nghĩ tới nghĩ lui, Gìn vàng giữ ngọc, Trăng tủi hoa sầu, Chân mây cuối trời, Than thân trách phận, Ăn thô nói tục, Yêu trẻ kính già,...

Những đơn vị như thế, đã, đang và chắc sẽ còn được tạo lập trong tiếng Việt. Đó là những sản phẩm được tạo ra trong đời sống hoạt động ngôn ngữ. Trả lời cho câu hỏi "Chúng có trở thành thành ngữ hay không?" thật là khó. Hẳn rằng còn phải qua thời gian, qua thực tế sử dụng, qua rất nhiều tác động của các nhân tố trong và ngoài ngôn ngữ nữa,... mới có thể kết luận được.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 153–165.



www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

liêm
Starting Member

11 Posts

Posted - 04/27/2008 :  05:07:26  Show Profile  Reply with Quote
cảm ơn về lời giải thích
Go to Top of Page

Phượng Vỹ
New Member

USA
52 Posts

Posted - 04/29/2008 :  22:48:51  Show Profile  Reply with Quote

TỤC NGỮ 
THANH LÃNG
 
I. HÌNH THỨC TỤC NGỮ

1. Định nghĩa

Trước khi nói đến hình thức tục ngữ, ta nên phân biệt mấy danh từ hay bị dùng lẫn lộn.
Tục ngữ (tục: thói quen có từ lâu đời; ngữ: lời nói) là những câu nói gọn ghẽ, có ý nghĩa, lưu hành từ xưa do cửa miệng người đời truyền lại.
Ngạn ngữ, cũng nghĩa như tục ngữ: vì chữ ngạn có nghĩa là lời nói người xưa truyền lại.
Phương ngôn, là những câu tục ngữ chỉ lưu hành trong một vùng chứ không thông dụng khắp nước.
Cách ngôn, là những câu tục ngữ có nghĩa cao xa.

2. Thể cách và kết cấu
Thể cách và kết cấu của tục ngữ đơn sơ, mộc mạc chứ chưa được điêu luyện như ca dao. Thường được cấu tạo do ba phương pháp sau đây:
a. Hội ý suy loại: Là đặt một câu cho có ý nghĩa còn lời chỉ cần xác đáng, gọn ghẽ:
Nước đổ lá khoai.
Đèn soi ngọn cỏ.
Chó cắn áo rách.
b. Đối tự, đối ý: Cao hơn một nấc, cách cấu tạo thứ hai, tuy chưa để ý đến vần điệu, đã có nhiều cố gắng về hình thức: đặt câu phải có hai vế đối nhau, hoặc đối ý hoặc đối chữ.
Giơ cao, đánh sẽ.
Giầu điếc, sang đui.
No nên bụi, đói nên ma.
c. Thanh âm hưởng ứng: Vượt hẳn hai thể cách trên về mọi phương diện: ngoài việc đặt câu cho cân xứng, nhà văn còn phải chú trọng nhất đến âm luật, đặt cho trong một câu có nhiều tiếng vần với nhau. Vần trong tục ngữ thường là yêu vận chứ ít khi có cước vận. Cách gieo vần trong tục ngữ hết sức tự do.

Những câu một vế: chỉ có yêu vận và thường là hai tiếng tiếp liền nhau:
Tay làm hàm nhai.
Những câu có nhiều vế: vần có thể là chữ nhất câu dưới:
Khôn cho người ta dái
Dại cho người ta thương.

Vần ở chữ nhì câu dưới:
Người giầu tham việc
Thất nghiệp tham ăn.

Vần ở chữ ba câu dưới:
Của người bồ tát
Của mình lạt buộc.

Vần ở chữ tư câu dưới:
Sống về mồ mả
Không sống về cả bát cơm.

Vần ở chữ năm câu dưới:
Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe.

Vần ở chữ sáu câu dưới:
Trông mặt mà bắt hình dong,
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

Như thế, ta nhận thấy trừ lối gieo vần ở chữ sáu câu dưới, tức thể lục bát, còn ở các lối trên vẫn thường là vần trắc, họa hoằn mới có vần bằng.

II. NỘI DUNG TỤC NGỮ

Tục ngữ có thể gọi là cái túi khôn của người Việt Nam. Sự tinh khôn đây không phải là triết lý cao siêu, tư tưởng thâm trầm, huyền bí. Đây chỉ là những điều thường thức mà lương tâm dân chúng gom góp lại, như những luật luân lý thực hành, hoặc ghi nhớ những kinh nghiệm thực tế. Như vậy, ta nhận thấy nội dung của tục ngữ khác hẳn nội dung của câu đố, ca Huế, hay ca dao. Tục ngữ là con người lý trí của đất Việt. Câu đố, ca Huế hay ca dao là con người tình cảm huyết thống của dòng dõi Trương Chi, Chử Đồng Tử.

Tục ngữ, vì thế thường diễn giải hai sự trạng luân lý và kinh nghiệm.

1. Luân lý thường thức
Nói đến luân lý, tức là nói đến bổn phẩn, đến sứ mạng phải chu toàn. Con người ở thời nào cũng thế, vẫn phải đầy đủ hai bổn phận: với chính mình và với người khác.

Với mình. Thu lại tất cả tục ngữ, ta sẽ có một cuốn luân lý rất đầy đủ về đạo tu thân: huấn luyện tình cảm, huấn luyện lý trí, huấn luyện xã hội…

Người ta sinh ra cần phải giáo dục:
Cá không ăn muối cá ươm,
Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.

Ăn uống phải cẩn thận đừng có bừa bãi:
Vạ bởi miệng ra,
Bệnh chẳng qua bởi miệng vào.

Quần áo phải sạch sẽ:
Đói cho sạch,
Rách cho thơm.

Cư xử phải khôn ngoan:
Ăn cỗ đi trước,
Lội nước đi sau.

Đời sống phải trong sạch:
Sống đục sao bằng thác trong.

Với người ta. Ngoài những bổn phận đối với bản thân, con người sống trong xã hội còn phải có những tư cách khả dĩ làm cho cuộc sống xã hội trở nên yên vui, hòa thuận. Tư cách xã hội nhiều khi còn là cách thế giúp ta thành công.

Nói ngọt lọt đến xương.
Làm phúc như làm giàu.

2. Kinh nghiệm thường thức
Đây là những nhận xét thường thức về tâm lý, về phong tục người, về thời tiết, về nông nghiệp.
Tâm lý người đời:

Dao năng liếc thì sắc,
Người năng chào thì quen.

Phong tục Việt Nam:
Một miếng giữa làng
Bằng một sàng xó bếp.

Thời tiết
Chớp đông nhay nháy
Gà gáy thì mưa.

Nông nghiệp
Lúa giỗ, ngả mạ,
Vàng rạ thì mạ xuống được.

Đó là những câu ta được nghe cửa miệng người dân quê Việt Nam từ sáng chí tối trong lúc nhàn rỗi ngồi dạy dỗ con cái cũng như trong khi làm ăn lặn lội ngoài đồng. Đến cái túi khôn của dân tộc Việt, một cụ nho đã nói: “Các cụ đời xưa đặt ra tục ngữ, phương ngôn thật là đi guốc trong bụng chúng mình chứ không sai”. Lời đó cực tả cái giá trị của tục ngữ về đường tâm lý cũng như về đường phong tục.
 
THANG LÃNG
Nguồn: AN VIỆT TOÀN CẦU
Go to Top of Page
  Previous Topic Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 6.69 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05