Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Ca Dao và Tục Ngữ
 Đóng Góp Ca Dao
 Ca Dao Học
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Previous Topic Topic Next Topic  

HU1B
Moderator

USA
119 Posts

Posted - 10/25/2007 :  21:42:38  Show Profile  Reply with Quote


Ai đi đâu đấy hỡi ai? ()
Hãy về học tập , một mai em chờ

Ai ơi chớ lấy chồng chung
Chồng chung hai vợ một mùng
Day qua con vợ nọ, chọc khùng con vợ kia

Ai ơi đừng (chớ) lấy học trò ()
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Ngày thời cắp sách đi rong
Tối về lại giữ đèn chong một mình

Ai ơi giữ phép nước ta
Ai ơi thương lấy dân nhà một tông,
Có hậu dưỡng mới phú phong
Kẻ cày người cấy, sống trong thái bình
Kẻ, nho lo việc học hành
Mai sau chiếm bảng, nức danh trên trời
Kẻ buôn thì được lắm lời
Tàng vương chi thị tứ thời bán mua
Kẻ công ai cũng tranh đua
Làm nghề chạm vẽ: phượng rùa, long, ly
Tứ dân mỗi nghiệp mỗi nghề
Nhờ trời đều được, gặp khi thái hòa
Toàn dân vang khúc dao ca

Ai xui em lấy học trò
Thấy nghiêng bút mảng mà lo mà gầy

Ăn chanh ngồi gốc cây chanh ()
Bác mẹ gả ép (bán) cho anh học trò

Anh về học kỹ chữ nhu
Ba năm em đợi, mười thu em chờ

Anh về ráng học chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ

Ầu ơ Bồng bống bông bông
Lớn lên con phải cố học hành
Học là học đạo làm người,
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền,
Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn

Ầu ơ Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ
Sao anh không học đặng nhờ tấm thân

Bước sang tháng chín giá chân
Tháng một nằm trần, bức đổ mồ hôi
Con chuột kéo cày liên hồi
Con trâu hốc gạo vào ngồi trong cong
Vườn rộng thì thả rau rong
Ao sâu giữa đồng vãi cải làm dưa
Đàn bo bơi lội đến trưa
Một đàn gà vịt đi bừa ruộng nương
Voi kia nằm ở gầm giường
Cóc đi đánh giặc bôn phương nhọc nhằn
Chuồn chuồn thấy cám thì ăn
Lợn kia thấy cám vùng vằng bay qua
Trơi mưa cho muỗi bắt gà
Đòng đong, cân cấn đuổi cò xôn xao
Lươn nằm cho chúm bò vào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống cắn chuột trong bồ
Một trăm cây mạ đuổi vồ con trâu
Chim chích cắn cỏ diêu hâu
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm.

Bước vào phòng học gọi chồng
Trở ra sắp gánh sắp gồng ra đi.
Không đi thì chợ không đông
Đi ra một bước thương chồng nhớ con

Cả làng có một thầy đồ
Dạy học thì ít, bắt cua thì nhiều
Thương thầy, trò cũng muốn theo
Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi

Anh mau thức dậy học bài
Mong cho anh sớm thành tài
Trước làm đẹp mặt nở mày mẹ cha
Sau là không phụ tình ta bao ngày

Anh ở đợ ba năm không tiền dư ăn miếng kẹo
Em lại thân nghèo chọc ghẹo làm chi ?

Anh về đi học cho ngoan
Để em cửi vải kiếm quan tiền xài

Bàn tay còn có ngón dài ngón vắn
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay

Biết nhau từ thuở hàn vi
Dù phải lận đận khi đi khi về
Nhớ xưa cùng học một nghề
Cùng thầy cùng bạn chớ hề quên nhau!

Bống bồng bông
Màn Đông Tử gối Ôn Công
Lớn lên em phải ra công học hành
Làm trai gắng lấy chữ danh
Thi thư nếp cũ trâm anh dấu nhà
Hỡi ha ha
Chị nay chút phận đàn bà
Tam tòng tứ đức phận là nữ nhi
Mong em khôn lớn kịp thì
Năm xe làu thuộc

Canh một dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi canh ba đi nằm.
Bước sang cái trống canh năm,
Trình anh dậy học còn nằm làm chỉ
Nữa mai chúa mở khoa thi,
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh. (có ghi tên mình)
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành (*)
hoặc: Tiền lưng gạo bị cho anh vào trường Đơn vị đo thời gian của Việt Nam ta ngày xưa xem: Trống Canh Trống Canh

Canh tư bước sang canh năm
Trình anh dậy học chớ nằm làm chi
Nửa mai chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi, trên đề tên anh

Cậu kia cắp sách đi đâu
Cậu học chữ Tầu hay học chữ Tây?
Học chữ Tây không tiền không việc,
Học chữ Tầu ai biết ai nghe
Chi bằng về chốn thôn quê
Cấy cày còn được no nê có ngày

Con ơi ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo

Cây ngô (vông) đồng không không trồng mà mọc
Con gái xóm này chẳng chọc mà theo

Cây ngô đồng không trồng mà mọc
Gái chưa chồng anh chọc anh chơi (*)
Có bản khác: Thấy em chưa chồng anh chọc anh chơi

Con ơi siêng học kẻo thua
Mai mốt mẹ cho lên chùa ăn oản ăn xôi

Cây vông (ngô) đồng không trồng mà mọc
Con gái xóm này chẳng chọc cũng theo

Dã tràng xe cát bể (biển) đông ()
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì

Đàn ông học sảy học sàng
Đến khi vợ đẻ phải làm mà ăn

Con cậu cậu nuôi thầy cho (*)
Cháu cậu, cậu bắt chăn bò chăn trâu
Có bản khác: Con cậu cho học nho

Chữ quốc ngữ vần i tờ
Ai ơi hãy học đừng lờ chữ ta

Chưa từng chưa gửi chưa đeo
Đã từng, đã gửi, nhạt nhèo như không
Đã theo về việc canh nông,
Dù mưa dù nắng một lòng chẳng thay
Đã ăn ớt chẳng sợ cay
Bây giớ khổ nhọc có ngày thảnh thơi!

Cơm cha áo mẹ chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh

Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm

Con ơi mẹ bảo con này
Học buôn học bán cho tày người ta
Con đừng học thói chua ngoa
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười
Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ liệu bài cho toan
Phòng khi đóng góp việc làng
Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng
Trước là đắc nghĩa cùng chồng
Sau là họ mạc cũng không chê cười
Con ơi, nhớ bấy nhiêu lời !
Họ hàng xóm giềng
Công cha nghĩa mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết nhờ song thân

Dạy con từ thuở tiểu sinh
Gần thầy gần bạn tập tành lễ nghi
Học cho "cách vật trí tri"
Văn chương chữ nghĩa nghề gì cũng thông
What's learned in the craddle lasts till the tomb; OR: Train up a child in the way he should go "Cách vật trí tri" cũng giống khoa học thực nghiệm thời nay

Đèn Sài Gòn (Cầu Tàu) ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ
Xem bài đọc thêm: Chợ Sàigòn
Đi một ngày đàng
Học một sàng khôn

Đi ngày đàng sàng khôn học được
Bước chân ra một bước một hay

Phân tro, không bằng no nước
Ngày xưa chưa có phân hóa học nông dân dùng phân tro hay phân xanh
Kẻ ăn người ở trong nhà
Sớm khuya công việc giúp (đỡ) ta nhọc nhằn
Thương người đày đọa chút thân
Chớ nên ngược đãi lòng nhân mới là

Khôn thì trong trí lượng ra
Dại thì học lóm người ta bề ngoài

Không đi thì dạ không đành
Đi ra thì bỏ tơ mành ai quay
Không đi thì nhớ thì thương
Ra đi lên động xuống truông nhọc nhằn.

Gió đánh (đặp) cành đa
Thầy tưởng rằng ma
Thầy ù thầy chạy
Ba thằng ba gậy
Đi đón thầy về
Bắt con lợn sề
Cho thầy chọc tiết
Bắt con cá diếc
Cho thầy bóc mang
Bát con tôm càng
Cho thầy bóc vỏ
Lấy đôi đũa đỏ
Cho thầy gải lưng
Bóc đồng bánh chưng
Cho thầy chấm mật
Có bản khác: Đom đóm bay qua

Em thời canh cửi trong nhà
Nuôi anh đi học chiếm khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bỏ công đèn sách lưu gương đời đời

Em có chồng sao em không nói?
Để anh theo anh chọc em hoài
Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

Gặp đời Hải Yến Hà Thanh
Bốn dân trăm họ gặp lành, ấm no
Nay mừng điển hội cầu nho
Văn nhân sỉ tử, phải lo học hành
Làm sao cho được công danh
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra thân
Lại bàn đến việc nông dân
cày mây cuốc gió, chuyên cần công phu
Đêm thời cỏ phúc nhi du
Ngày thời kích nhưỡng khang cù vô ngu

Gió nam ào ạt gốc cây nằm mát
Chẻ lạt đứt tay, đi cày trâu húc
Đi xúc phải cọc, đi học thầy đánh
Đi gánh đau vai, nằm dài nhịn đói

Hễ ăn thì vóc hễ học thì quen
Dẫu họ chê vụng tập rèn phải hay

Hò ơ Hỏi anh anh nói học trò
Sao em lại thấy... (ờ)
Hò ơ... Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua

Hò ơ Tiếng anh ăn học làu thông
Hỏi anh có biết... (ờ)
Hò ơ... Hỏi anh có biết khăn lông mấy đường
- Hò ơ... Em về đếm hết cỏ vườn
Lại đây anh nói... (ờ)
Hò ơ... Lại đây anh nói khăn lông mấy đường cho em nghe!

Học cao không muốn tranh giành
Những người học ít ưa sanh sự phiền

Học hành ba chữ lem nhem
Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua

Học hành thi cử mà chi
Sáng sáng ăn no, tối ngủ khì

Học hành thì ít vào thân
Chức cao quyền trọng dần dần theo sau

Học là học đạo làm người
Con đừng lêu lổng kẻ cười người chê

Học trò ăn vụng cá kho
Bị thầy bắt được đánh mo lên đầu

Học trò ăn vụng càng cua
Bà thầy bắt được, tôi mua tôi đền

Học trò đèn sách hôm mai
Ngày sau thi đỗ nên trai mới hào
Làm nên quan thấp, quan cao
Làm nên vọng tía võng đào nghênh ngang

Học trò đi học đã về
Cơm canh chưa nấu lại trề môi ra

Học trò đi mò cơm nguội
Lỡ trượt vỏ dưa, té cái đụi, la trời

Học trò học trỏ học tro
Đi chưa tới chợ đã lo ăn hàng

Học trò thò lò mũi xanh
Ăn vụng bánh đúc chạy quanh nhà thầy

Học trò trong Quảng (*) ra thi
Thấy cô gái Huế bỏ (chân) đi không đành
Quảng Nam, Quảng Ngãi
Hỏi anh - anh nói học trò
Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua ?

Khó thay công việc nhà quê
Cùng (Suốt) năm khó nhọc dám hề khoan thai
Tháng Chạp thì mắc trồng khoai
Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà
Tháng Ba cày vỡ ruộng ra
Tháng Tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi
Tháng Năm gặt hái vừa rồi
Bước sang tháng Sáu nước trôi đầy đồng
Nhà nhà vợ vợ chồng chồng
Đi làm ngoài đồng sá kể sớm trưa
Tháng sáu tháng Bảy đi bừa
Vun trồng giống lúa bỏ chừa cỏ tranh
Tháng tám lúa trổ đã đành
Tháng Mười cắt hái cho nhanh kịp người
Khó khăn làm mấy tháng trời
Lại còn mưa nắng bất thời khổ công
Cắt rồi nộp thuế nhà công
Từ rày mới được yên lòng ấm no

Kìa ai học sách thánh hiền
Lắng tai nghe lấy cho chuyên ân cần

Khăn anh nàng lấy vá vai
Bây giờ nàng đã nghe ai dỗ dành?
Chẳng nên ra, tháo chỉ lấy mụn trả anh
Để anh đem bán lấy hai trăm vàng.
Một trăm anh đưa cho nàng
Còn một trăm nữa để chàng treo ngọn cây đa
Chứ em không nhớ lời thề nguyện với ta
Sông có Nhị Hà,núi có Tản Viên
Bây giờ, nàng ở thế sao nên
Tôi khấn Nam Tào, Bắc Đẩu biên tên rành rành.
Đã yêu anh, thời quyết với anh
Nhà tre, cót nứa, lợp tranh vững vàng.
Chớ tham nhà gỗ bức bàn
Gỗ lim chẳng có, làm xoàng gỗ vông.
Chỉ nhọc mình thôi lại luống công
Phòng khi gỗ mục, lại dùng nhà trẹ
Còn duyên anh bảo chẳng nghe !

Mặt trời lặn xuống bờ ao
Có con cò mẹ bay vào bay ra
Cò con đi học đường xa
Thẩn thơ chỗ nọ la cà chỗ kia
Tối rồi (Đi đâu) mà chẳng chịu về
Cơm canh mẹ đợi còn gì là ngon

Làm người mà được khôn ngoan
Cũng nhờ học tập, mọi đàng mọi hay
Nghề gì ta có trong tay
Cố công rèn luyện, có ngày thành công!

Làm thơ mà dán cây chanh
Trai bỏ học hành, gái bỏ bán buôn

Nay mừng điển hội cầu nho
Văn nhân sỉ tử, phải lo học hành
Làm sao cho được công danh
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra thân
Lại bàn đến việc nông dân
Cày mây cuốc gió, chuyên cần công phu
Đêm thời cỏ phúc nhi du
Ngày thời kích nhưỡng khang cù vô ngu

Làm trai cố chí học hành
Lập nên công nghiệp để dành mai sau

Làm trai học đạo Thánh hiền
Năm hằng đã trễ, ba giềng chớ sai

Làm trai học sẩy học sàng
Đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn

Làm trai nết đủ trăm đường
Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay
Công cha, đức mẹ cho dày
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ hai thân
Thức khuya dậy sớm cho cần
Quạt nồng ấp lạnh giữa phần đạo con

Mặc ai chác (chuốc) lợi mua danh
Miễn ta học đặng đạo lành thì thôi

Mặc ai chuốc lợi mua danh
Riêng ta học được đạo lành là hơn.

Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai
Em nghĩ mình emcó cúc bạc đeo tai
Cúc bạn thì có, trâm cài thì không
Tóc em xanh, em vấn lộn khăn hồng
Quần lãnh thâm đôi ba cái, đôi má hồng nhởn nhơ

Mừng nay nho sĩ có tài
Bút nghiên dóng dả, giữ mài nghiệp nho
Rõ ràng nên đấng học trò
Công danh hai chữ trời cho rõ ràng
Một mai chiếm được bảng vàng
Ấy là phú quý giầu sang quế hòe,
Bước đường tiến đến cống nghè
Vinh quy bái tổ, ngựa xe tưng bừng
Bốn phương nức tiếng vang lừng
Ngao du bể thánh, vẫy vùng rừng nho
Quyền cao chức trọng trời cho
Bõ công học tập, bốn mùa chúc minh!

Mười hai giờ kiểng đổ nhà thờ
Sao anh không học đặng nhờ tấm thân ?

Nào ai học được chữ ngờ
Thà rằng ở vậy để chờ kiếp sau!

Mưa từ trong Quảng mưa ra (câu )
Tháng năm tháng sáu mưa dài
Bước sang tháng bảy tiết trời mưa ngâụ
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần.
Tháng tám mưa khắp xa gần
Bước sang tháng chín đúng tuần mưa rơị
Tháng mười mưa ít đi rồi
Nắng hanh trời biếc cho tươi má hồng.
Một chạp là tiết mùa đông
Mưa phùn đêm vắng trong lòng lạnh thay
Bài mưa anh đã học đây
Mối tình rào rạt đêm chầy như mưa

Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Hay nằm thời có võng đào,
Dài lưng thời có áo bào nhà vua
Hay ăn thời có gạo kho (sẵn thóc mấy kho),
Việc (Lo) gì mà chẳng ăn no lại nằm

Nay mừng tứ hải đồng xuân
Tam dương khai thái, muôn dân hòa bình
Sĩ thời chăm việc học hành
Một mai khao bảng đạt thành công danh
Công thời phượng các long đình,
Đủ nghề phát triển, thỏa tình lợi thâu
Nông thì cuốc bẫm, cày sâu
Thu hà, hạ mạch, tăng thâu co ngày
Thương thời buôn bán liền tay
Dứt tài tử cống, đua tài hiên ngang (ai tầy cho đa
Ba công cố gắng mở mang
Tri thanh, danh toại, giầu sang hơn người

Muôn nghìn (Ai ơi) chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Nam mô Bồ tát
Chẻ lạt đứt tay
Đi cày trâu húc
Đi xúc phải cọc
Đi học thầy đánh
Đi gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói

Nghe tin anh học có tài
Đào tiên một cõi, thiên thai ai vào
Thiên thai là của nàng Kiều
Riêng chàng Kim Trọngsớm chiều vào ra!

Nghe tin anh nói nhọc nhằn
Mẹ cho trái mít anh mần cả xơ

Nghìn muôn chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Dài lưng đã có võng đào
Tốn vải đã có áo bào vua cho
Hay ăn đã có của kho
Tội gì mà chẳng ăn no lại nằm ?

Nhọc nhằn chẳng muốn ăn khoai
Luộc một nồi bộng, lựa hai củ sùng

Nhọc nhằn nỏ muốn ăn khoai
Nấu một nồi bộng, lựa hai củ sùng
Đánh một tiếng tùng
Của sùng cũng hết

Nhỏ còn thơ dại biết chi
Lớn thì đi học, học thì phải siêng
Theo đòi cũng thể bút nghiêng
Thua em kém chị cũng nên hổ mình

Người khôn nhọc lo
Người dại ăn no lại nằm.

Ở bầu hình dáng nên tròn
Xấu tốt thì đều rắp một khuôn
Lân cận nhà giàu no bữa cốm
Bạn bè kẻ trộm phải ăn đòn
Chơi cùng đứa dại nên người dại
Kết với người khôn học nết khôn
Sống nới đẳng thấp, thành đẳng thấp
Muốn đen gần mực, đỏ gần son!

Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần,
Mai anh học xạ
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên cái bút thật là của em

Quả cau nho nho cái vỏ vân vân
Nay anh học gần, Mai anh học xa
Lấy nhau từ thuở mười ba
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường người nghĩ còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

Quả cau nho nhỏ cái vỏ vân vân ()
Nay anh học gần, mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên cái bút thật là của em

Quý hồ nhiều lúa là tiên
Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà
Bốn mùa xuân lại thu qua
Muốn cho thóc lúa đầy nhà hán sương
Bước sang hạ giá thu tàn
Thu thu tiền hoạch, giầu sang Thạch Sùng
Quý nhân dùng kẻ anh hùng
Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề
Thật là chân chỉ thú quê
Chuyên cần học nghiệp, học nghề đoan trang
Gặp thời là được thọ khang
Tam đa ngũ phúc, rõ ràng trời cho!

Rắp toan cỡi ngựa ra về
Chàng đề câu đối thiếp đề câu thơ.
Mải vui ngồi chốn đám cờ
Tưởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên.
Chàng về giữ việc bút nghiên
Đừng tham nhan sắc mà quên học hành.
Một mai chiếm được khoa danh
Trước là rạng nghiệp sau mình vinh thân.

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưụ
Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừạ

Rủ nhau đi học i o
Mỗi ngày một chữ, con bò cũng thông

Thân anh khó nhọc trăm phần
Sáng đi ruộng lúa, tối nằm ruộng dưa
Vội đi quên cả cơm trưa
Vội về quên cả trời mưa ướt đầu

Thấy anh ăn học Sài Gòn
Tôi đây xin hỏi trăng tròn mấy đêm
Anh đứng giữa trời không dám nói thêm
Trăng rằm mười sáu hai đêm trăng tròn
Xem bài đọc thêm: Chơ. Saigòn
Tiếng anh ăn học cựu trào ()
Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên
- Nắm đầu thì khổ
Nắm cổ lại không nên
Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
Vậy anh cứ "bớ làng là hơn"
Câu đố nầy dựa vào quan điểm "nam nữ thụ thụ bất tương thân"
Tháng giêng lúa mới chia vè
Tháng tư lúa đã đỏ hoe đầy đồng.
Chị em đi sắp gánh gồng
Đòn càn tay hái ta cùng ra đị
Khó nghèo cấy mướn gặt thuê
Lấy công đổi của chớ hề luy aị
Tháng hai cho chí tháng mười
Năm mười hai tháng em ngồi em suy
Vụ chiêm em cấy lúa đi
Vụ mùa lúa ré, sớm thì ba giăng.
Thú quê rau cá đã từng
Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan.
Việc nhà em liệu lo toan
Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà.
Tháng sáu em cấy anh bừa
Tháng mười em gặt anh đưa cơm chiềụ

Tháng năm cho chí tháng mười
Năm mười hai tháng em ngồi em suy:
Vụ chiêm em cấy lúa đi
Vụ mùa, lúa dé, sớm thì ba trăng,
Thú quê, rau cá đã từng
Gạo ngon, cơm trắng chi bằng tám xoan
Việc nhà em liệu lo toan
Khuyên chàng học tạp cho ngoan kẻo mà

Thầy đi học đạo làm chi
Tương chao có biết hơn gì hay không ?

Thú quê rau cá đã từng
Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan
Việc nhà em liệu lo toan
Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà

Con ăn con ngủ cho no
Con lẫ con chửng con bò con đi
Ngày sau con học con thi
Mẹ mong con đỗ mẹ thì nhờ con

Tiếng anh nho sĩ học trò
Sao anh cạn dạ không dò ý em

Trai thì đi học đỗ ba khoa liền
Khoa trước thì đỗ khôi nguyên
Khoa sau tiến sĩ đỗ liền ba khoa
Vinh qui bái tổ về nhà
Ăn mừng hai họ đủ ba tháng chày
Hàng phủ, hàng huyện đông tây
Rủ mừng quan trạng tới ngày hiển vinh

Trách lòng em bậu đãi đưa
Gạt anh dãi nắng dầm mưa nhọc nhằn

Trên trời có đám mây vàng
Bên sông nước chảy có nàng quay tơ.
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hành.
Nàng buồn nàng bỏ cửi canh
Chàng buồn chàng bỏ học hành chàng đi.

Triều đình còn chuộng thi thư
Khuyên anh đèn sách sớm trưa học hành.
May nhờ phận có công danh
Mà anh phú quý, ấy mình vẻ vang
Khuyên đừng trai gái loang toàng
Khuyên đừng chè rượu nữa mang tiếng người.
Cũng đừng cờ bạc đua chơi
Sao cho sự nghiệp ra người trượng phu.
Làm sao nên tiếng danh nho
Thần trung, tử hiếu để cho vang lừng!

Trời mưa cho ướt lá riềng
Mua giấy mua bút mua nghiên học hành.
Chàng về em gửi đôi chanh
Trái chín nhuộm áo, trái xanh gội đầu.

Văn chương (Thông ngôn) phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong
Ngày ngày vác cuốc thăm đồng
Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên.
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong.
Nay mai lúa tốt đầy đồng
Gặt về đập sảy bõ công cấy cày.

Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa Năm yêu mảnh áo ngắn tà
Sáu yêu quần trắng là đà gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui
Chín yêu học thức hơn người
Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong!
Tại Sài Gòn vào năm , trong truyện dài bằng thơ Lời Tâm Sự của Thuần Phong đăng trên tạp chí Cùng Bạn, cũng có một bài thơ giễu nhẹ các cô tân thời:

Xin chàng kinh sử học hành
Để em cày cấy cửi canh kịp người
Mai sau xiêm áo thảnh thơi
Ơn trời lộc nước đời đời hiển vinh

Em thì canh cửi việc nhà
Nuôi anh ăn học đăng khoa bảng vàng
Trước là vinh hiển tổ đường
Bõ công đèn sách lưu hương con nhà
Rước vinh quy về nhà bái tổ
Ngả trâu bò làm lễ tế vua
Họ hàng ăn uống say sưa
Hàng Tổng hàng Huyện mừng cho ông Nghè
Nghè là người đỗ tiến sĩ thời xưa; Hoãn là đôi bông tai

Trời làm tháng sáu giá chân
Tháng một nằm trần nóng đổ mồ hôi
Con chuột kéo cày lồi lồi
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong
Vườn rộng thì thả rau rong
Ao sâu giữa đồng vãi cải làm dưa
Con bò đi tắm ban trưa
Một đàn con vịt cày bừa ruông nương
Con voi nằm ở gầm giường
Cóc đi đánh giặc bốn phương nhọc nhằn
Chuồn chuồn thấy cám liền ăn
Lợn kia thấy cám nhọc nhằn bay qua
Trời mưa cho mối bắt gà
Thòng đong con cấn đuổi cò lao xao
Lươn nằm cho trúm bò vào (*)
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống cắn chuột trong bồ
Lá lúa lá mạ đuổi vồ chân trâu
Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha qua biết đâu mà lần
Cầy cáo thì đuổi chó săn
Một đàn con chuột đuổi ăn con mèo
Trúm: Ống tre bẫy lươn
Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!
Khế chết khế lại mọc chồi
Để sung mọc nhĩ để hồi đeo hoa (*)
Đôi bên bác mẹ cùng già
Lấy anh hay chữ để mà cậy trong
Mùa hè cho chí mùa đông
Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi
Hết gạo thiếp lại gánh đi
Hỏi thăm trường học vậy thì nơi nao
Hỏi thăm đến ngõ thì vào
Tay cắp thúng gạo miệng chào thưa anh
Trong thì mặc áo đào xanh
Ngoài thì bươm bướm bay quanh dập dìu
Gỗ cây sung mọc nấm tai mèo; (Bác mẹ là cha mẹ)
Vịt nằm bờ mía rỉa lông
Cám cảnh thương chồng ăn học đường xa

Dốt đến đâu học lâu cũng biết
Lợi đâu không biết lại thiệt vào thân
Hơn nhau tấm áo manh quần
Thả ra mình trần ai cũng như ai

Thứ nhất Ba Gia Thứ hai Tú Xuất
Tráo trưng lưng bát ngồi mát bát đầy
Khéo miệng mà chả khéo tay
Đẽo cày ra cuốc còn hay nỏ mồm
Hai người đứng đầu về châm biếm chuyên trêu chọc giới quan quyền và người đời

Muốn hành nghề, chẳng nề học hỏi
Năng ăn năng đói năng nói năng làm
Thế gian họ nói chẳng lầm
Lụa là tuy trang,vứng cầm cũng đen

Chưa học bò đã lo học chạy
Vén mây mù mới thấy trời xanh
Gươm linh sứt cán còn trành (*)
Bình hương dẫu vỡ mẻ sành còn thơm
Learn to creep before you leap Trành là chắn tay ở cán gươm

Trượt vỏ dưa vỏ dừa phải tránh (phải trợt)
Học khôn đi lính học tính đi buôn
Chữ rằng: "Họa phúc vô mô"
Tìm giầu thì dễ tìm khôn khó tìm
The scalded dog fears cold water. OR: Once bitten, twice shy, OR: Many men many minds

Trên trời có cái cầu vồng
Kẻ Chợ Cầu Muống Kẻ Đông Cầu Dền
Vua (Việc) trên đền cầu tiền cầu bạc
Các lái buôn cầu nước cầu non
Đôi ta cầu của cầu con
Con đẹp giống mẹ con dòn giống cha
Con gái dệt cửi trong nhà
Con trai đi học đỗ ba khoa liền
Con lớn thì đỗ trạng nguyên
Hai con tiến sĩ đỗ liền cả ba
Vinh quy bái tổ về nhà (*)
Bõ công đèn sách mẹ cha nuôi thầy (*)
Vốn em chỉ có "Thâm Chầy"
Anh cho "Tắc lái" cho đầy quan năm
Buôn trầu đếm cuốn bán trăm
Mưa dầm gió bấc, em nằm em lo
Thi đậu vua ban võng lọng về quê ăn mừng; Nuôi thầy là ngày xưa trường học chưa phổ biến, cha mẹ phải rước thầy về nuôi trong nhà để dạy con học hành; Tắc lái là tiến lóng của lái buôn trâu bò chỉ ba tiền, quan hai

Ai về Phú Lộc gửi lời
Thư nầy một bức nhắn người tri âm
Mối tơ chín khúc ruột tằm
Khi tháng tháng đợi khi năm năm chờ
Vì tình ai lẽ làm lơ
Cắm sào quyết chí đợi chờ bến xuân
Ước sao chỉ Tấn tơ Tần (*)
"Sắc cầm hòa hợp" lựa vần "quan thư" (*)
Đôi bên ý hiệp lòng ưa
Đắp đền công thiếp lại vừa lòng anh
Thiếp thời tần tảo cửi canh
Chàng thì nấu sử xôi kinh kịp thì (*)
Một mai chúa mở khoa thi (*)
Bảng vàng chói lọi có đề tên anh ()
Tấn Tần: hai nước ở đời Xuân Thu bên Trung-quốc. Kẻ Tấn người Tần: mỗi người một xứ khác nhau; Trong Kinh Thi có câu: "Quan quan thư cưu" là như đôi chim thư cưu luôn luôn đi cặp đi đôi; Nấu sử xôi kinh là lo học hành để đạt công danh; Xem Đại Việt Sử Thi Đặi Việt Sử Thi () Có bản khác: Ấy là đề diệp tinh kỳ từ đây, Ai ơi nghe thiếp lời này.


Trăm trâu trăm bó cỏ
Trâu đứng ăn năm
Trâu nằm ăn ba
Nghé hoa ba con ăn một (*)
Câu đố toán học - Có bản khác: Con ở đàng xa một bó ba con

Xin anh đi học cho ngoan
Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài.
Quan tiền dài em ngắt làm đôi
Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già.

Vui đâu bằng hội đề danh
Nghề nào bằng nghiệp học hành là hơn
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy xuôi
Phu nhân thì có công nuôi
Toàn gia hưởng phúc lộc trời ban ơn
Mừng nay thái vũ xuân hồi
Miệng dâng câu hát, hoan bồi cuọc vui!

Mã nhật tượng điền xe liền pháo cách (*)
Vô sư vô sách bất trách qủy thần (*)
Mua lầm chớ bácn chẳng lầm
Nết na con gái tiếng tăm thầy đồ
Mã nhật… những cách đi con cờ tướng; Bất trach.. Nếu không có sach , không có thầy để học thì sơ xuất qủy thần cũng không trách

Ông đồng ông chổi
Hàng kẹo mạch nha
Nào bà hàng quế
Vừ đi vừ tế
Một lũ học trò
Người cầm quạt mo
Là vợ ông Chỗi
Trôi nổi mà lên
Ba bề bốn lên
Nổi lên cho chóng
Chuông kêu trống gióng
Cũng bước vào mà
Bước lên giường cao
Thấy gà mái ấp
Bước xuống giường thấp
Thấy con rồng chầu
Bước ra đàng sau
Thấy nhà mới lợp
Trâu ông còn buộc
Ngựa ông còn cầm
Ông sống một trăm
Mười lăm tuổi lẻ

Ai về anh dặn lời này
Phượng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng
Song le còn chút ngại ngùng
Biết rằng thầy mẹ thương cùng cho chăng?
Nẻo xa thấp thoáng bóng trăng
Cũng mong nhờ gió cát đằng (*) đưa dây
Quảng Hàn cách mấy lần mây
Để cho duyên hiệp đấy đây cho gần.
Cát đằng: loài dây leo phải bám vào những cây to khác. Trong văn học cổ thường dùng cát đằng để chỉ sự phụ thuộc, lẽ mọn. () Quảng Han:nghìa gốc là rộng và lạnh, theo Long thành lục, vua Đường Minh Hoàng, nhân đêm rằm tháng tám, được nhà thuật sĩ làm phép lạ đưa lên mặt trăng chơi, thấy cửa vào cung trăng có biển đề "Quảng hàn thanh hư chi phủ" (cái phủ trống rỗng, trong suốt, lạnh và rộng) do đó Quảng Hàn, Cung Quảng Hàn, Cung Quảng, Cung Han,v.v`. đều dùng để chỉ mặt trăng.

Ra về nhớ đến Chọc Cuôi
Nhớ làng Thanh Thủy, nhớ người Lệ Sơn

Anh đi bờ lở một mình
Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba
Trò Ba đi học trường xa
Cơm canh ai nấu mẹ già ai coi

Ách giữa đàng quàng vào cổ
Tự nhiên chuốc lấy cái khó nhọc của người

Ăn hóc học nên

Ăn vóc học hay

Ăn vóc học nên

Bạch diện thư sinh
Người học trò yếu ớt trói gà không chặt
Bán tôm bán cá
Đức tính hàm hồ, thiếu học thức
Cách vật trí tri
Chia tách sự vật ra rồi dùng trí suy luận để biết , phân tích đối tượng sự vật rồi dùng trí thức để tìm biết ra nguyên lý của nó, nghiên cứu của sách đại học là muốn trị quốc thì phải tề gia , tề gia thì phải tu thân , tu thân thì phải chỉnh tâm , chỉnh tâm thì phải thành ý , và sau cùng muốn thành ý , thì phải trí tri , mà muốn trí tri tất phải cách vật

Ấu bất học lão hà vi
Nhỏ mà không học, thì lớn lên không làm được trò trống gì

Ấu nhi học tráng nhi hành

Bác cổ học viện
Trường chuyên khảo về cổ học
Bất hiếu hữu tam
Có ba điều bất hiếu : - không vâng lời cha mẹ -- không lo học hành --Không có con để nối dòng

Bất học vô thuật
Không học thì không thông thạo sự việc

Bảy mươi còn học bảy mốt

Bảy mươi học bảy mốt

Cầm gậy chọc trời

Càng học càng thấy dốt

Chẳng hẹn mà gặp chẳng rắp mà nên
Có bản khác: Chẳng học mà hay chẳng rắp mà nên

Chẳng học mà hay chẳng cày mà biết

Chọc bát cơm đơm bát cháo

Chọc cứt không nên lỗ

Chọc gậy bánh xe

Chọc gậy xuống nước

Chọc trời khuấy nước

Chồng học trò vợ con hát

Chưa học (Chưa tập) bò đã lo học (lo tập) chạy

Chưa học làm xã đã hay ăn bớt

Chưa làm xã đã học ăn bớt

Có học mới biết có đi mới đến

Con học thóc vay

Con không học thóc không vay

Con lên ba cả nhà học nói

Con nhà giàu học giỏi đẹp trai

Con ơi học lấy nghề bà

Đại Nam hải nhai lão thơ sanh tánh Phan chi cữu
Linh cữu của người học trò già họ Phan ở ven biển của nước Ðại Nam

Đâm bị thóc thọc bị gạo

Hay học thì sáng hay làm thì tối

Đi bữa chợ học mớ khôn

Đi học thầy đánh đi gánh đau vai

Đi một buổi chợ học được mớ khôn

Đi một đàng học một sàng khôn

Đi một ngày đàng học một sàng khôn

Hăm hăm hở hở nhọc thở hết hăm

Học ăn học nói

Học ăn học nói học gói học mở

Học chẳng biết chữ cua chữ cò
Nói những chữ như rồng như rắn

Học chẳng hay cày chẳng biết

Học chẳng hay thi may thì đỗ

Học chọc bát cơm đơm chẳng kịp

Học hay cày biết

Học khôn đi lính học tính đi buôn

Học mặc tài, thi mặc phận

Học một biết mười

Học nhiên hậu tri bắt túc

Học như bất sư học hữu
Học thầy không tày học bạn
Học như gà đá vách

Học như quốc kêu mùa hè

Học sư bất như học hữu
Học thày không tày học bạn
Học tài thi phận

Học thành danh lập

Học thầy không tầy học bạn

Học thì dốt vợ tốt thì muốn

Học trước quên sau

Hơn thóc nhọc xay

Khám đường là học đường

Là lượt là vợ thông lại nhễ nhại là vợ học trò

Lắm thóc nhọc xay

Lấy gậy chọc trời

Mấy ai học được chữ ngờ

Mưu con đĩ trí học trò

Năm mới năm me
Lấy que thọc đít

Người bảy mươi học người bảy mốt

Người khôn nhọc lo đứa dại ăn no lại nằm

Người không học như ngọc không mài
Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý
Người mà không học khác gì đi đêm

Nhân bất học bất tri lý
Ngọc bất trác bất thành khí
Người mà không học thì không biết gì ngọc mà không mài giũa thì viên ngọc không quí

Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò

Nhọc l?ng mà chẳng nên công cán gì

Thọc gậy bánh xe

Trưởng giả học làm sang

Thương cha chớ chọc ăn mày

Tiên học lễ hậu học văn

Tốt tóc nhọc cột nhà

Trẻ lên ba cả nhà học nói

Ưu đạo bất ưu bần
Lo không học được đạo nghĩa chứ không lo nghèo khổ

Vô học bất thuật

Con ơi siêng học kẻo thua ()
Mai mốt lên chùa giỗ Bụt, Bụt thương
Có bản khác: Vu Lan lên Chùa lạy Bụt thầy thương
Chồng khôn thì nổi cơ đồ
Chồng dại chồng tốn công phu, nhọc mình

Công cha đức mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Trưởng thành con phải biết thờ song thân

Ai lên Hương Tích cảnh thiền
Dừng chân chiêm bái tôi khuyên đôi lời
Hãy tin tiềm lực con người
Đừng trông đừng đợi trên đời ngoài ta
Cũng đừng học thói kiêu sa
Khiêm cung cẩn trọng mới là chính tâm

Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành líu lo
Em nghĩ mình em cái cúc bạc lưu ly tai
Cúc bạc tình chung thì có
Cái trâm cài vốn không
Cái tóc mây em vấn lộn khăn sồng
Quần lĩnh hâm đôi ba chiếc
Đôi má hồng em nhởn nhơ

Sáng trăng suông
Sáng cả vườn đào, sáng cả vườn chanh
Ba bốn cô đằng ấy có cô nào còn không
Có một cô thật đích cô chưa chồng
Có cho anh ghé chút làm chồng nên chăng
Cô mình về có nhớ chúng anh chăng
Ta về chỉ nhớ cái hàm răng cô mình cười
Mười quan anh chẳng tiếc, chỉ tiếc người răng đen
Cái răng đen ai khéo nhuộm cho mình
Để duyên cô mình đẹp
Cho cái tình chúng anh yêu
Trăm con như cái sợi chỉ đào
Trăm con cái sợi chỉ ấy
Nó cũng buộc vào cái tay anh (Còn tiếp)


Đất Quảng Nam rộng đà ra sức rộng
Đường ra kinh xa đã quá xa
Anh ra làm chi mỗi tháng mỗi ra ?
Anh ra một bữa cực ta ba, bốn ngày
Câu hát hò khoan của một cô gái xứ Quảng nam đóng vai gái Huế, không rõ giận người tình thế nào, mà hát một câu độc, đáo để, không ai đối được Kể cả chàng trai cùng các người tài cao học rộng. Câu hát như sau:
Học mà không nghĩ là lầm,
Nghĩ mà không học là nguy


Thư sinh trói gà không chặt
Người học hành không có sức lực đềm làm việc nặng

Ngó lên mây trắng trời hồng
Trai chưa vợ ghẹo gái có chồng được không
Ông Phật đồng ông nói rằng không
Trai chưa có vợ chọc gái có chồng mang gông

Nhắn ai viếng cảnh Nha Trang
Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà
Muốn trong trời bể bao la
Con thuyền nho nho thì ra Hòn Chồng
Muốn xem cá lạ Biển Đông
Xuống tòa Hải Học trong vùng Trường Tây
Muốn vui với nước cùng mây
Mây tuôn suối ngỏ nước đầy Suối Tiên
Ba Hồ lắm thú thiên nhiên
Qua Sơn là chốn thần tiên đi về
Lòng mong nương bóng Bồ Đề
Lên Chùa Hải Đức gần kề Nha Trang

Năm ngoái anh mới sang Tây, (Câu )
Đồn rằng buôn bán năm nay phát tài.
Lòng anh muốn lấy vợ hai,
Rằng: "Nhà có thuận, nay mai nó về?
Rồi ra một quán đôi quê,
Tôi muốn nó về làm bạn sớm hôm.
Trước là sinh tử sinh tôn,
Sau nữa thờ phụng công môn ông bà.
Trước con nhà sau ra con nó,
Xin nhà rồi chớ có ghen tuông.
Chợ rộng thì làm gái buôn,
Sông rộng lắm nước trong nguồn chảy ra.
Lòng anh ăn ở thật thà,
Coi nó mười tám, coi nhà hai mươi;
Lòng anh chàng có như người,
Có mới nới cũ, tội trời ai mang;
Lòng anh ăn ở bằng ngang,
Nó giàu bằng mấy cũng nàng thứ hai".
- "Thôi thôi, tôi biết anh rồi,
Bụng anh nông nổi giếng khơi không bằng!
Bây giờ anh khéo khôn ngoan,
Sau anh tư túi, tôi làm chi anh? (Còn Tiếp)

Năm ngoái anh mới sang Tây (Câu )
Anh mà bắt chước Thúc Sinh,
Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư!"
Tiếp Theo câu Xem Giải Thích tại: Bắt Chước Thúc Sinh, Học Đòi Hoạn Thư
Anh đứng ở Nha Trang
Trông sang Xóm Bóng
Ánh trăng lờ mờ, lượn sóng lăn tăn.
Gần nhau chưa kịp nói năng,
Bây giờ sông cách, biển ngăn ngại ngùng?
Biển sâu con cá vẫy vùng
Sông sâu không dễ mượn dòng đưa thư
Anh nguyền cùng em:
Bao giờ Hòn Chữ bể tư
Biển Nha Trang cạn nước
Anh mới từ duyên em
Hòn Chữ : Một hòn đá rất to như một ngôi nhà nằm nơi bãi sông Cù, trên có khắc chữ Chăm cô (qua thời gian nét chữ bị mòn, mất đi nhiều nét). Các nhà khảo cổ học ngờ rằng hòn đá xưa kia nằm trên núi Tháp Bà do đất lở, lăn xuống dòng sông.
Em hỏi anh xưa kia
Ai "xạ" chín mặt trời ?
Ai dạo chơi âm phủ ?
Ai nằm ngủ quên ăn ?
Ai khóc cho măng mọc ?
Ai dạy học trò thi ?
Trai nam nhơn đối đặng, gái nữ nhi xin kết nguyền.
- Ớ em ơi! buổi xưa kia
ông Hậu Nghệ "xạ" chín mặt trời,
Ông Phạm Công dạo chơi âm phủ,
Ông Địch Nhi nằm ngủ quên ăn,
Nàng Mạnh Tông khóc cho măng mọc,
Đức Không Tử dạy học trò thi
Trai nam nhơn anh đối đặng, gái nữ nhi hãy kết nguyền.

Một nhánh tra, năm ba nhánh trảy,
Một nhánh trảy, năm bảy nhành nho,
Em tới đây, có đủ quan văn, quan võ, trẻ nhỏ, học trò.
Ai mà đối đặng tôi gả em chị em cho,
Ai mà đối không đặng, tôi bắt chăn bò ba năm.
- Một nhánh trảy, năm bảy nhánh mai
Một nhánh mai trăm hai nhánh thị
Chữ văn, chữ sĩ, anh đối hết trăm câu
Đối rồi anh hỏi chị em đâu
Nếu chị không có, anh bắt em hầu ngàn năm
Có bản khác: Trò nào đối đặng, em gả chi em cho, Trò nào không đối đặng em bắt chăn bò suốt năm
Chẳng ai xấu bằng anh chồng tôi
Cái râu rễ gộc, cái tóc rễ tre
Cái bụng bè bè, hình như bụng cóc
Học hành thời dốt, chữ nghĩa chẳng biết
Nó bắt nó lèn, nó nêm như chạch
Nó thở ành ạch, như cái ễnh ương

Chị hai buông áo tôi ra
Để tôi đi học kẻo đà bị trưa
Bao giờ chiếm bảng khôi khoa
Yêu nhau hãy cứ đợ chờ vội chi.

Gặp đây xin hỏi Thúy Kiều
Có thương Kim Trọng ít nhiều chi không ?
Truyện Kiêu chàng biết mấy pho,
Hay là chàng chỉ học mò đôi câu ?

Gió nam non thối lòn hang dế,
Tiếng anh học trò mưu kế để dâu ?

Đưa em cho tới bến đò,
Kẻo em thơ dại học trò phỉnh em.

Ngó lên trên trời, mây giăng tứ hướng,
Ngó xuống dưới biển, đá dựng bốn bề.
Em làm sao cho đặng chữ phu thê
Đây chồng, đó vợ đề học trước sau.

Không ngon cũng bánh lá dong,
Dù có em có dại cũng dòng con quan.
- Không ngon cũng bánh lá gai,
Dù anh có dại cũng trai học trò.

Làm thơ mà dán gốc chanh,
Trai bỏ học hành, gái bỏ bán buôn.
Gái bỏ bán buôn vẫn còn tha thứ,
Trai bỏ học hành, một chữ năm roi.

Tiếng anh ăn học cũng thông,
Lại đây em hỏi làm bánh bò bông bột gì?
- Làm bánh bò bông bằng bột tàn mì
Trứng gà khuấy lộn nó quì bốn tai.

Tiếng anh ăn học cựu trào
Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên
- Nắm đầu thì sợ tội trời
Nắm ngang khúc giữa sợ lời thế gian
Giếng sâu anh phải thông thang
Kéo chị dâu lên đặng kẻo chết oan linh hồn
Câu đố nầy dựa vào quan điểm "nam nữ thụ thụ bất tương thân"
Trèo lên cây khế bẻ bông
Ngó vô trường học thấy đông dậm dầy
Nếu em không sợ ông thầy
Em vô cầm bút sửa chữ này cho anh

Kẻ ăn người ở trong nhà,
Sớm khuya công việc giúp ta nhọc nhằn.

Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu.

Biển Đông có lúc vơi đầy,
Mối thù đế quốc biết ngày nào quên.
Cá bống kho với lá gừng,
Bà con mình đó, xin đừng quên nhau !
Càng ngày xâu nặng thuế cao,
Mất mùa nên phải lao đao, nhọc nhằn.
Xóm làng nhẫn chịu cắn răng,
Bán đìa nộp thuế cho bằng lòng quan.
Quan trên ơi hớt quan trên,
Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiên mà thôi !
Cây khô xuống nước cũng khô,
Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu.
Nhớ chăng tình nghĩa trước sau,
Bỏ thây xứ lạ, làm giàu cho ai ?

Mưu con đĩ, trí học trò.

Hay chi chọc gái có chồng
Cơm chan nước lã mặn nống vào đâu
Có bản khác: Làm trai ghẹo gái có chồng
Cô kia má đỏ hồng hồng,
Cô không biết chữ nên chồng cô chê.

Cô ơi gian khổ chớ nề ,
Bình dân (l) đã mở, sao không hề tham gia ?
Bình dân: Tức Bình dân , một phong trào xóa nạn mù, chữ thời kháng chiến chống Pháp ( - ). học vụ
Còn trời, còn nước, còn non,
Còn người mù chữ, ta còn phải lo.

Hò ơ... (chớ) Hỏi anh anh nói học trò
Sao em lại thấy... (ờ)
Hò ơ... (chớ) Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua

Ru con còn ngủ đi thôi,
Mẹ còn đi học kiếm đôi ba vần ().
Muốn tròn bổn phận công dân,
Mà không biết chữ trăm phần nhuốc nhơ.

Sông Nha Trang cát vàng, nước lục,
Thảnh thơi con cá đục lội dọc lội ngang.
Đã nguyên cùng nhau hai chữ đá vàng,
Quí chi tách cà phê đen, ly sữa bò trắng
Anh nở phụ phàng nước non.
Đi học bình dân học vụ sau Cách mạng tháng Tám.
Hò ơ... (chớ) Tiếng anh ăn học làu thông
Hỏi anh có biết... (ờ)
Hò ơ... (chớ) Hỏi anh có biết khăn lông mấy đường

Sáng mai xách dĩa mua tương
Gặp anh trong trường cầm viết ngó ra
Em về mua lụa mười ba
Cắt áo cổ giữa mà tra nút vàng
Hỏi thăm anh học trường nào?
Mua giấy mau viết gởi vào cho anh.

Anh về học lấy chữ nhu,
Chín trăng em đợi mười thu em chờ.

Thương thay cho kiếp dã tràng
Sông sâu biển rộng cho ngàn sóng xao
Tháng ngày cực nhọc xiết bao
Một mình quần quật lấp sao cho bằng

Anh về để áo lại đây,
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
- Lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
Trả áo anh về đi học kẻo trưa.

Đi ngang cầu sắt nắm lấy cho chắc
Anh hỏi gắt cô bạn chung tình
Thương không thương phải nói cho thiệt
Để anh lên xuống nhọc nhằn tấm thân

Làng Nghè lập được trống quân
Ngoài Bưởi seo giấy cho dân học hành.

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn
Tàu Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành
Anh với em phải nói cho rành
Để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh.

Anh về bỏ áo lại đây
Đêm khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
Lạnh lùng anh đắp áo cho
Đành chi lòng giận dày vò năm canh
(Lạnh lùng lấy mùng mà đắp
Trả áo anh về đi học kẻo trưa)

Hát lên một tiếng cho thanh
Trai bỏ học hành, gái bỏ bán buôn
Gái bỏ bán buôn, gái còn lịch sự
Trai bỏ học hành một chữ năm roi

Những lời mình nói với ta ()
Sông có Nhị Hà, núi có Tản Viên
Còn bây giờ, nàng ở thế sao nên
Tôi khấn Nam Tào, Bắc Đẩu ghi tên rành rành
Đã yêu anh thời quyết lấy anh
Nhà tre, cột nứa, lợp tranh vững vàng
Chớ tham nhà gỗ bức bàn
Gỗ lim, chẳng có, làm xoàng gỗ vông
Chỉ nhọc mình, thôi lại uổng công
Phòng khi gỗ mục lại dùng nhà tre
Còn duyên anh bảo chẳng nghe.

Tiếng gà gáy giục năm canh
Chàng ơi dạy học còn nằm làm chi
Sang năm Chúa mở khoa thi
Tàn vàng choi chói rỡ thì tên anh.

Thoi đưa tay mỏi canh chày
Tiếng ai xin lửa là thày cống Sen
Thày rằng đang học tắt đèn
Cậy tình lân lí dám phiền đêm hôm

Lấy chồng Hòe Thị nhọc nhằn
Ngày mỏi quai búa, đêm nằm đau lưng
Lấy anh ăn trắng mặc trơn
Quai búa anh nhận, sướng hơn vợ người.

Ngòi sách, ruộng học là đây
Cho nên Phú Diễn, đất này lắm quan.

Đồn rằng anh học đã cao ()
Hỏi chị dâu rớt giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên.
- Chị dâu mà rớt xuống giếng
Anh tìm miếng để cứu chị lên
Nắm đầu thì khổ
Nắm cổ thì không nên
Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
Vậy thì anh cứ van làng là hơn!

Đồn rằng anh học đã cao
Hỏi chị dâu rớt giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên.
- Chị dâu mà rớt xuống giếng
Anh tìm miếng để cứu chị lên
Nắm đầu thì sợ tội trời
Hai tay nâng đỡ, sợ lời thế gian
Nhanh tay liền bắc cái thang
Kéo chị dâu một thuở kẻo chết oan con người

Đồn đây có gái hát tài
Để ta đối địch một vài trống canh
Dẫu thua dẫu được cũng đành
Bõ công đèn sách học hành bấy lâu.

Phủ Hoài Đức có làng Tây Mỗ
Đất phì nhiêu dân số cũng đông
Tám trăm tám tám đàn ông
Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi
Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể
Trước sóng đào sau kế ao sen
Bồ Đề, Cống Hạnh, Cầu Tiên
Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng.
Đồng cao thấy miên man gò đống
Làng tròn xoe, đất rộng của nhiều
Bán buôn thịnh nhất nghề thêu
Học hành ai cũng có điều đáng khen.

Chẳng thơm cũng ngát hoa chanh (Câu )
Chẳng giỏi cũng gái ngoại thành Thủ đô.
Ra tay chẳng phải tay vừa
Làm chiêm chiêm vượt, làm mùa mùa hơn.
Chăn nuôi vừa khéo vừa khôn
Quanh năm gà lợn xuất chuồng quanh năm.
Thao trường cũng gắng cũng chăm
Veo veo đường đạn thằng băng vòng mười.
Việc quân nào chịu thua người
Cũng tay súng thép giữ trời quê hương.
Điện về điện sáng làng thôn
Cũng tay điều khiển máy bơm máy nghiền.
Siêng làm thì học cũng siêng
Người vào lớp bảy, người lên lớp mười.
Mấy kỳ đấu kiếm, thi bơi
Chưa tài mà cũng khối người vỗ tay.
Đêm chèo giọng hát chưa hay
Vẳng qua sông Đuống đã say sông Hồng.
Bốn mùa tươi áo nâu sồng
Việc nhà việc nước gánh gồng đôi vai.
Trai tài gái đã kém ai
Chẳng thơm cũng ngát hoa nhài hoa chanh. (Còn tiếp Câu )
(Xem tiếp Câu số )
Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà Thành
Gái trai nô nức học hành
Giáo sư mấy lớp, học sinh mấy ngàn
Buổi diễn thuyết người xem như hội
Kỳ bình văn khách tới như mưa
Nôm quốc ngữ, chữ hán thư
Bài ca yêu nước, câu thơ hiệp đoàn
Trong chín tháng, sóng tràn gió đập
Tiếng Đông Kinh lừng khắp Đông Dương
Khắp đâu đâu cũng học trường
Cùng nhau đua bước lên đường văn minh…
... Trời đang buổi nắng mưa tầm tã
Dấn thân mình đứng giữa cơn dông
Cả gan cho biết anh hùng
Hỏi xem mấy mặt trong vòng trần ai.

Muối đổ lòng ai, nấy xót.
Học ăn, học nói, học gói, học mở.

Ba năm bú mớm con thơ,
Kể công cha mẹ, biết cơ ngần nào.
Dạy rằng chín chữ cù lao, ()
Bể sâu không ví, trời cao không bì.
() Chín chữ cù lao: nói công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con cái.
Con ơi, mẹ bảo con này,
Học hành chăm chỉ, cho tày người ta
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười,
Dù no, dù đói, cho tươi,
Khoan ăn, bớt ngủ, là người lo toan.

Hỏi thăm anh học trường nào.
Đặng em mua giấy gửi vào cho anh.

Dây tơ hồng không trồng mà mọc.
Thấy em chưa chồng anh chọc anh chơi.

Đèn Sài gòn ngọn xanh ngọn đỏ,
Đèn Mỹ tho ngọn tỏ ngọn lu,
Anh về học lấy chữ nhu.
Chín trăng em đợi mười thu em chờ,

Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành.

Tay cầm cái kéo con dao.
Chọc trời, vạch đất lấy nhau phen này.


  Previous Topic Topic Next Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam © cadaotucngu.com Go To Top Of Page
This page was generated in 0.38 seconds. Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.05