Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Văn Hóa Việt
 Văn Hóa Việt
 Văn hóa Luy Lâu & dấu vết Mã Lai
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 04/08/2010 :  01:11:22  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote


Văn hóa Luy Lâu & dấu vết Mã Lai


Thành Luy Lâu


Văn hóa Luy Lâu được cho là đã có từ thời Triệu Đà 207 BC. Nghiên cứu văn hóa Luy Lâu có thể thấy được đây là một lọai hình văn hóa đa dạng, trong đó điểm gây chú ý nhất là điệu múa mặt nạ



Qua những hình ảnh khắc trên trống đồng có thể thấy được bản sắc Việt ở các điệu múa của những người trang phục cánh chim, .nhưng ở Luy Lâu lại có một điệu múa dân gian là điệu múa mang mặt nạ chưa hề thấy khắc trên trống đồng khiến người ta nghĩ rằng đó có thể là điệu múa của một tộc người thiểu số khác nằm trong cộng đồng người Việt, có thể đó là điệu múa của người Chăm hoặc có thể đó là điệu múa từ nơi nào mang đến . Ở Luy Lâu , điệu múa “Bà Bụng chửa” và điệu múa “Con đĩ đánh bồng” được các nhà nghiên cứu cho rằng có liên quan đến nghi lễ nông nghiệp trong thời văn hóa Luy Lâu. Ngừơi ta so sánh bài múa “ Con đĩ đánh bồng” với bài múa “ Bà bụng chửa”và chỉ ra điểm giống nhau ở chỗ cùng là nghi lễ phồn thực, là những đám múa sinh thực khí nói lên ước muốn sinh sôi nảy nở của con người.

Bà bụng chửa được miêu tả là một người đàn bà to lớn với bụng chửa cao vượt mặt, hai tay cầm hai quạt to để múa, hình ảnh ấy làm ta liên tưởng đến hình ảnh ông địa cũng có bụng to như bụng chửa và tay cũng cầm quạt, chỉ khác là ông địa có thêm chiếc mặt nạ rất giống hình mặt hề khắc trên ngói lợp đền miếu tìm thấy ở Luy Lâu. Sự giống nhau giữa ông Địa với Bà Bụng chửa làm ta thắc mắc liệu ông Địa thuở xưa ở chế độ mẫu hệ có phải là bà bụng chửa. Như đã biết chế độ mẫu hệ gắn liền với nông nghiệp thể hiện ớ câu : “ Bà Nữ oa bằng ba mẫu ruộng, ông Tứ tượng bằng bốn con sào”, ở chế độ mẫu hệ người ta đề cao phụ nữ . Về tín ngưỡng người ta thờ Bà , vị thánh nữ mang nhiều tên khác nhau như : Bà chúa Xứ, Bà chúa Ngọc ,Thiên Y Ana thánh Mẫu , Po Ino Nagar..v..v , những vị thánh nữ kể trên còn được gọi là Bà Trời. Còn mặt trăng cũng được người Chăm theo chế độ mẫu hệ gọi là Bà Trăng

Nhưng có nơi người ta cũng thờ Ông bởi trên đất nước ta có hai cộng đồng dân cư, một quen sống ở vùng sông nước, vùng biển và một cộng đồng quen sống ở vùng đất đồng bằng, vùng cao. Hai cộng đồng này đã hòa nhập với nhau tạo nên một nền văn minh đặc sắc thể hiện bằng những hình ảnh được khắc trên trống đồng. Ở những vùng dân cư sống bằng nghề biển, tôi cho rằng đa số theo chế độ phụ hệ, ở đó người ta thờ Ông , người ta đã nhân cách hóa con cá thành một vị thần thường cứu nạn cho người đi biển , đó là cá Ông .



Trở lại với Ông Địa. …Tại Nghệ An người ta thấy ông Địa đi trong các đám rước Thành Hòang. Tại Bắc Bộ người ta thấy ông Địa đi trong các đòan múa lân, múa sư tử vào các dịp lễ lớn. Ông Địa luôn đeo mặt nạ trông rất giống với gương mặt khắc trên đầu ngói “ Mặt hề” được phát hiện trong thành Luy Lâu có niên đại thứ 2-3 sau công nguyên

Những đầu ngói “Mặt hề” còn được tìm thấy ở các di tích thành cổ của Chămpa mà các nhà khảo cổ cho là có nguồn gốc từ văn hóa Hán.

Thực ra măt nạ có nguồn gốc từ Tây Vực. Từ đó mặt nạ được mang đến Trung Quốc cũng như đến Việt Nam.. N.Kon rat trong Phương Đông và Phương Tây cho rằng : “mặt nạ có thể được mang tới Trung quốc bằng hai con đường, hoặc theo hướng Tây vực hoặc theo hướng Đông Dương”.



Vào thời Hán Vũ Đế người Trung Hoa đã lấn chiếm được vùng Hoa nam . Khỏang 122 BC, sứ thần của Hán là Trương Thiên đã nhìn thấy ở Bactria vùng bắc Ấ n có sản phẩm vải vóc và hàng mây tre của Tứ xuyên nên nghi ngờ có con đường mua bán giữa Ấn độ và nam Trung quốc . Qua báo cáo của Trương Thiên, Hán Vũ đế đã cử 4 đội điều tra để tìm kiếm và tìm ra nơi ở của người Nhục Chi.

Nhục Chi (Nguyệt chi) là một tộc người đã từng sinh sống ở Tây vực , lòng chảo Tarim (bồn địa Tháp Lý Mộc). Sau đó, khỏang 175-125BC một trong số năm bộ lạc của người Nguyệt Chi là bộ lạc Quý Sương (貴霜), đã nắm quyền kiểm soát liên minh Nguyệt Chi , họ đến Bắc Ấn và Vuơng triều Quý Sương (Kushan) ở BắcẤn được thiết lập vào cuối thế kỷ thứ IBC

http://www.grifterrec.com/coins/kushan/kushan.html

Trước khi người Nguyệt Chi đến Bactria, đã có một nhóm bộ lạc Scythia định cư ở nơi này được gọi là người Ấn-Scythia. Người ta cho rằng sau khi bị người Nguyệt Chi xua đuổi, một số người Scythia có thể đã di cư xuống khu vực ngày nay là tỉnh Vân Nam ở miền nam Trung Quốc. Khu vực Điền Trì ở VânNam đã khai quật được nhìều đồ đồng Hình ảnh mô tả trên trống đồng là các cảnh săn bắn của những người cưỡi ngựa thuộc Đại chủng Âu(Caucasoid). Các cảnh động vật như hổ, báo tấn công bò mang nét nghệ thuật Scythia



http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%87t_Chi

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%B2ng_ch%E1%BA%A3o_Tarim



Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có 2 con đường vào phía Tây nam Trung Hoa :một con đường từ Bactria qua Ấn Độ, Miến Điện đến Tứ xuyên và một con đường đến khu tự trị Sở Hùng ( Chuxiong) , con đường “Bonan Dao” thuộc tỉnhVân Nam. Hai con đường này đã từng là con đường mua bán và cũng là con đường di cư của tổ tiên.

Theo tôi, mặt nạ có lẽ đã vào Luy Lâu không phải qua mua bán mà đó là nét văn hóa đã theo dân tộc nào đó di cư đến Luy Lâu như dân tộc Chăm chẳng hạn vì như đã nói phần trên, những đầu ngói “Mặt hề” không chỉ được tìm thấy ở Luy Lâu nơi có người Chăm sinh sống mà còn được tìm thấy ở các di tích thành cổ của Chăm. Trong hệ thống múa cổ truyền đặc trưng còn mang nhiều bí ẩn, được lưu truyền qua nhiều thế hệ là các điệu múa Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc, Hoa Lang và Tú Huần (còn gọi là Lục hồn Nhung) , thì chỉ có ba điệu Chiêm Thành, Hoa Lang và Tú Huần là mang mặt nạ. Tiếng nói của người Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malay-Polynesia , mà theo Bình nguyên Lộc dân tộc này có gắn bó với dân Nhục Chi

Bình nguyên Lộc trong Nguồn gốc Mã Lai của dân tộcViệt Nam đã dựa vào từ EA trước từ Blăng có nghĩa là Bà Trăng mà cho rằng đất Chăm là do người Lưỡng Hà khai phá chứ không phải do người Ấn độ như các nhà nghiên cứu phương Tây đã giả định. Bình Nguyên Lộc có lẽ cũng thấy dấu vết Bactria , mà người Trung Hoa gọi là Đại Hạ, trong văn hóa Chăm nên ông cho rằng người Chăm là người gốc Nhục Chi và có lẽ vì người Ba Tư thờ mặt trăng , cùng với Ea là từ ngữ xuất hiện nhiều trong các văn bản tìm được ở vùng Lưỡng Hà nên ông nói thêm rằng bọn Ba Tư-Nhục Chi này lại có thể là gốc Lưỡng Hà. Ông còn thấy rằng đạo thờ linga, yoni không phải của Ấn Độ mà là của chủng Malayalam ở Ấn và cho rằng đó là dấu vết Mã lai của xã hội Mã Lai Lạc Việt thời cổ . Như vậy, theo ý ông mà suy ra thì Việt nam và Chàm cũng có mối quan hệ gắn bó vì cùng chung nguồn gốc Mã Lai, tuy nhiên không thấy ông nói đến việc ta có liên quan gì đến Ba Tư-Nhục Chi hoăc Malayalam ở Ấn.

Thuyết của Bình Nguyên Lộc cũng có điểm đáng chú ý. Tuy nhiên, cho dù yếu tố Mã lai trong con người Việt là có thật, ta cũng cần có niềm tin vào truyền thuyết con rồng cháu tiên, cần nhớ đến chuyện lên núi xuống biển của tổ tiên ta để rộng đường suy luận.

Bình Nguyên Lộc không quan tâm nhiều đến truyền thuyết, ông rất thích nghiên cứu sọ, ông viết: “…..chỉ có sọ chủng Mã Lai là giống hệt sọ của người Việt Nam, còn sọ Mê-la-nê, sọ Négrito, sọ Miêu, sọ Trung Hoa đều khác…….”

Tuy rằng Bình Nguyên Lộc thích nghiên cứu sọ mà ông cho đó là phương pháp rất khoa học, kết quả nghiên cứu của ông thật là khó tả.. Ông viết : “Các nhà đào bới đã tiết lộ những điều kỳ dị hết sức là các thứ sọ Hoa Bắc chỉ thuộc ba chủng còn để hậu duệ lại cho đến ngày nay:

1. Sọ Trung Hoa

2. Sọ Miêu

3. Sọ Khuyển Nhung ở Tây Thiểm Tây, mà sọ Khuyển Nhung chỉ là sọ Miến Điện, mà sọ Miến Điện chỉ là sọ Mã Lai.

Kỳ dị là không hề có sọ Cửu Lê, sọ Lạc, sọ Việt hay sọ nào khác để đặt tên là Viêm chẳng hạn.

Theo sử Tàu thì Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên diệt. Tám đời vua thì phải lâu, và phải có để dấu vết lại. Trong khi đó thì Cửu Lê không hề có để lại một tí dấu vết tại đất Hoa Bắc. Như thế thì làm thế nào mà Thần Nông, là vua của dân Lê và Lạc được?

Không hề thấy dấu vết của sọ và vũ khí của Lê và Lạc ở địa bàn của Lê và Lạc. Thật là phiền cho giáo sư Kim Định vì nó không ăn khớp với cái vụ ăn cướp văn minh Việt mà Tàu là thủ phạm.

Đã bảo một nền văn minh không bắt chước được khi thoáng thấy, mà phải học. Nhưng chủ nhân của nền văn minh đó lại biến mất, không để dấu vết lại thì phải làm thế nào?

Thế nên chúng tôi mới bác bỏ cái đám cướp tưởng tượng đó và chủ trương một lối thấy khác nữa là cái ông Cổ Thiên Tử Xy Vưu đó, đến làm chủ Hoa Bắc không tới 10 năm là đã gặp rủi ro, là sự xâm nhập của Tàu, chớ nếu ông ta đã làm vua ở đó lâu đời rồi thì thế nào sọ và vũ khí của dân Cửu Lê cũng còn sót lại, ít lắm là một cái.

Làm vua mới có 10 năm, hoặc 5 năm, chưa có ai kịp chết hầu để sọ lại, rồi thì bị đánh đuổi và chạy đi mất hết, nên mới không để dấu vết ở Hoa Bắc.

Và như vậy thì không có vấn đề Tàu ăn cướp văn minh nông nghiệp tại Hoa Bắc.”

Lập luận của ông như thế khá là lẩn thẩn. Theo cổ thư Trung Hoa thì họ Thần Nông đã từng làm chủ Hoa Bắc , 530 năm sau đến đời Du Võng thì suy bị chư hầu là Xuy Vưu cướp ngôi. Như vậy dù Xuy vưu làm vua 5 năm hay 10 năm thì dân của ông ta đời này sang đời khác cũng đã từng sống trên 530 năm ở đó chứ không phải 5-10 năm, vã lại cho dù chỉ sống 5-10 năm cũng có thể để lại sọ vì con người không phải chỉ già mới chết , chưa kể đến trận chiến ác liệt xảy ra ở Trác Lộc , ta không thể nói là Cửu Lê đã chạy thóat cả nên không ai bị chết , chỉ có thủ lĩnh Xuy Vưu là bỏ mạng tại hang Hung Lê.

Có thể thấy rằng Bình Nguyên Lộc do mãi tính chuyện bác bỏ thuyết của giáo sư Kim Định nên bị rơi vào suy luận chủ quan , thay vì tìm hiểu xem liệu Khuyển Nhung có chỉ số sọ mà ông hàm ý là sọ Mã Lai có bao gồm Mã Lai Việt và Mã Lai Chàm như ông từng nói không . Nếu phải thì Khuyển Nhung, Mã Lai Chàm ,Mã Lai. Tất cả những sọ giống Mã lai ấy có phải là thuộc những bộ tộc trong Cửu Lê hay không. Ông đã không làm vậy mà mượn ngay sự kiện theo ông là kỳ dị vì không hề có sọ Cửu Lê, sọ Lạc và sọ Việt ở Hoa bắc để bác bỏ thuyết của giáo sư Kim Định.

Riêng vấn đề yếu tố Mã Lai trong người Viêt có lẽ Bình nguyên Lộc nói không sai vì tại Uruk vùng Hạ-Lưỡng Hà (3700BC-3100BC) có một di chỉ kép chịu sự chi phối của hai nền văn hóa, ở trung tâm là di chỉ Eanna xưa kia dâng cho nữ thần Inanna của sao Kim và vùng phía Tây là di chỉ Kullab dâng cho thần Trời Anu..

Thần trời Anu còn gọi là AN , người Sumer gọi Trời là An, ký tự cuneiform là 4 chiếc que gác chéo nhau thành hình sao 8 cánh. Còn Nữ thần Inanna có nhiều tên gọi theo từng quốc gia . Ở Greco-Roman, Inanna được gọi là Aphrodite/Venus; ở Ai cập là Hathor ; còn người Akkadian gọi Innana là Ishtar

Nữ thần Inanna đôi khi được viết là Inana có nghĩa là “Nữ thần của trời”( Great Lady of AN) còn ý nghĩa của Ishtar và các tên gọi khác thì chưa được biết. Người ta tìm được những con dấu hình trụ Inana / Ishtar xuất hiện thường xuyên với cung tên, Inana mặc váy dài với vương miện trên đầu, với biểu tượng ngôi sao 8 cánh hoặc 16 cánh giống hệt như ngôi sao trên mặt trống đồng. Nhiều tượng nhỏ được tìm thấy Inana khỏa thân, một vài hình ảnh hoặc tượng Inana có bàn tay người nhưng bàn chân là bàn chân chim và mang trên người đôi cánh chim .

Rõ ràng là có nhiều nét văn hóa vùng Lưỡng Hà trong văn hóa Chăm và văn hóa Việt. Những chiếc thuyền hình lưỡi liềm , những ngôi sao trên trống đồng , đàn chim sếu bay , những hình người có cánh chim. Đặc biệt là không như những tên gọi khác rất xa lạ, tên gọi của nữ thần Inana gần với tên gọi thánh mẫu Thiên Y ana của Việt và Po Ino Naga của Chăm. Tượng nữ thần Inana cũng tròn trịa , mũm mĩm như tượng Chăm. Tượng Bà Po Ino Naga của Chăm ở Nha Trang ngày xưa cũng trần truồng, sau này người Việt thờ Bà nhưng không để trần truồng mà mặc quần áo cho Bà và gọi là thánh mẫu Thiên Y Ana , ở Bình Thuận người ta còn gọi Bà là Mẹ “Xứ Sở”. Liệu tên gọi “Xứ Sở” có liên quan gì đến “Suse” ?

Mặc dù có sự gần gũi , gắn bó giữa Chăm với Việt , Chăm-Việt đã từng sát cánh chống giặc ngọai xâm phương Bắc nhưng tôi cho rằng cũng cần nghiên cứu thêm xem Chăm có phải là Âu cơ của Việt , bởi theo cổ sử Trung hoa vào thời Nghiêu Thuấn, tàn dư của Cửu Lê đã kết lại thành Tam Miêu chống đối lại người cầm quyền nên đã bị đày ra Tam Nguy Sơn cạnh sa mạc Đôn Hòang . Khi ấy có lẽ Mã Lai Chăm đã kết thân với Nhục Chi ở Tây Vực và có giai đọan chịu ảnh hưởng văn hóa vùng Bắc Ấn.Còn Mã Lai Việt có lẽ chỉ quanh quẩn ở hành lang Cam Túc . Văn hóa Qijia tại di chỉ Xishanping ở Cam túc có niên đại 2250BC người ta khai quật được nhiều xẻng đá và các công cụ dùng trong nông nghiệp được làm bằng đá hoặc xương động vật trong đó có kim may bằng xương có lỗ là công cụ lao động mà vùng Lưỡng Hà đã có từ trước 3000 BC. Tuy rằng xẻng đá ở nơi này không phải là lọai xẻng đá lớn như xẻng đá ở di chỉ phía nam Quảng Tây và xẻng đá ở di chỉ phía Bắc Việt Nam là khu vực có người Tày Nùng sinh sống , nhưng tôi cho rằng ba vùng văn hóa này có chung nguồn gốc.

Theo Pierre Amiet , trong “Phương đông thời cổ đại”, ở Susiane thời đó đã có hai quần thể dân cư vùng Lưỡng Hà và vùng núi hòa nhập khắng khít với nhau, sau đó cư dân vùng Susiane đã cắt đứt quan hệ với vùng cao nguyên Iran để hòa nhập với nền văn hóa Lưỡng Hà , đọan tuyệt với kỉểu đồ gốm sơn vẽ và vùng Susiane khi ấy bị bỏ trống. Từ cuối thiên niên kỷ V, vùng Susiane giàu có hơn nhờ những thứ từ vùng Lưỡng Hà đưa tới và thành Suse đã được xây dựng, dân thành Suse đã cắt đứt quan hệ với với vùng Lưỡng Hà hòa nhập một cách độc đáo với dân vùng cao nguyên lập nên văn minh tiền Elam, đặc biệt có hai thành phố : Suse ở vùng đồng bằng và Anshan ở vùng cao Tall-i Malayan.

Theo ý tứ trên mà suy thì khỏang cuối thiên niên kỷ V, đầu thiên niên kỷ IV có lẽ dân ở vùng Susiane đã cắt đứt quan hệ với vùng cao nguyên Iran để đến Uruk và sau đó sáp nhập di chỉ Kullab vào Eanna , nam thần trời Anu khi ấy được thờ trong đền E’anna cùng với nữ thần trời Inana, còn dân cư ở di chỉ Kullab mà tôi cho là con cháu của dòng Cao Lang, là người Việt cổ, có lẽ đã di cư đến vùng đất Susiane bị bỏ trống hòa nhập với cư dân Anshan ở vùng cao Tall-i Malayan lập nên văn minh Tiền Elam

Dân vùng Lưỡng Hà gọi trời là “An”, người Trung Hoa và Việt gọi trời là “Thiên”.
Người Việt không gọi trời là An nên địa danh An Sơn ở vùng người Việt sinh sống nh ư : Tuyên quang, Bắc giang, Thái nguyên, Cao Bằng , Ninh Bình được gọi là Yên Sơn còn những vùng có người Chăm sinh sống như :Ninh Thuận, Quảng Nam, Hải Dương đều được gọi là An Sơn.

Ờ Trung hoa có một Anshan ở Liêu ninh thuộc miền bắc và một Anshun ở Quí châu thuộc miền Hoa nam. Người Trung hoa gọi người Việt là dân An nam .Vị vua thay thế đời vua Hùng Vương cuối cùng của Việt là An Dương Vương cho thấy mối liên hệ giữaViệt với cư dân vùng Anshun . Tôi cho rằng Quí Châu và Quảng Tây thời Chiến quốc là nơi cư ngụ của nàng Âu cơ mà người Trung Hoa sau này gọi là Tây Âu Lạc , là địa bàn của người Tày, là người ở vùng cao Tall-i Malayan có quan hệ huyết thống với Việt . Người Tày tự gọi họ là Tày mà theo tôi tên tự gọi này có nguồn gốc từ nơi tổ tiên họ đã từng sinh sống là (Tall-i) Malayan. Đó không chỉ là tộc người có quan hệ gắn bó với Việt như Chăm mà còn là một nửa của Việt.

Còn dân tộc Chăm theo các nhà nghiên cứu cũng như những ghi chép thời xưa cho là dân của nước Lâm ấp , dân tộc này cũng có hai dòng là dòng cau và dòng dừa . Theo tôi , người dân nước Lâm Ấp thời Tần cũng sống quanh quẩn ở vùng Anshun, cho đến năm 248 , xảy ra cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu nhà Đông Ngô cử Lục Dận làm An Nam hiệu úy, tức thứ sử, sang Giao Châu dẹp loạn. Sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa này, Lục Dận đem quân xuống chiếm Khu Lật, bắt theo hàng ngàn thợ khéo tay dâng cho nhà Đông Ngô. Những vùng đất bị quân Lâm Ấp chiếm đóng đều bị lấy lại.Có lẽ thời điểm này dân Lâm Ấp đã di cư xuống Luy Lâu. Hiện nay có một huyện ở Sơn Đông –Trung quốc cũng mang tên là Lâm Ấp và một đơn vị cấp thị có tên là Nhật Chiếu . Tôi ngờ rằng trước kia một trong hai dòng cau-dừa là người Hạ ở đất Tề thuộc tỉnh Sơn Đông, là người Elam hỗn chủng với Khương tộc thành Khuyển Nhung và Thân Nhung, là người Bộc đã từng giữ vai trò chủ đạo trong nhóm Lạc thuộc Đông Di ở phía đông vùng Hoa Bắc . Đất Tề khi xưa được nhàChu phong cho Khương tử Nha là nước Khương Tề . Khỏang 672BC , Trần Hòan từ nước Trần sang phụng sự Tề Hòan công. Con cháu của Trần Hòan về sau giết vua Tề để nắm quyền bính. Do âm Trần và Điền cổ gần giống nhau nên được chép thành Điền. Năm 386 BC Điền Hòa được nhà Chu phong làm Tề Hầu. Năm 379 BC , họ Trần chính thức thay thế Khương Tề, được chép là Điền Tề. Năm 221BC, Điền Tề bị Tần diệt, vùng đất của Tề được Tần lập thành các quận Tề và Lang Dạ.

Liên hệ và phỏng đóan như trên kể cũng hơi mơ hồ nhưng lại lý giải được bí ẩn của mảnh gốm màu gạch có chữ Trần được khắc bằng chữ Hán tìm thấy ở di chỉ Chăm thuộc thánh địa Mỹ Sơn. Trong thực tế Chăm-Việt Tày –Nùng có nhiều phong tục tập quán khá giống nhau. Trong khi các dân tộc khác hay đặt tượng kỳ lân ở cổng thì Việt có thứ tượng không giống ai, đó là tượng con Nghê mà qua dáng ngồi cho thấy tiền thân của nó là con chó, các nhà nghiên cứu cho biết chó là con vật phổ biến ở vùng Địa Trung Hải. Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hình tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm chuyển thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ, ở vùng Lưỡng Hà đôi khi người ta khai quật được ngôi mô người chôn chung với chó. Ở Lai châu ( Leizhou) thuộc Quảng Đông là nước Nam Việt của vua Triệu Đà , người ta cũng khai quật được hàng trăm tượng chó đá đủ cở, đủ kiểu, di chỉ Chămpa cũng có tượng chó đá nhưng không nhiều bằng voi đá, bò đá có lẽ do ảnh hưởng Hồi giáo . Về ẩm thực cổ sử chép tộc Lê ( Cửu Li) trồng lúa nếp và hay ăn nếp thì người cổ Việt- Tày –Nùng- Lê –Chăm cũng đều hay ăn nếp, những lọai bánh cổ truyền như: bánh dầy, bánh chưng, chè trôi nước , cơm lam, bánh ú, bánh khảo, các lọai xôi đều được làm bằng gạo nếp. Mặc dù dấu tích của hạt gạo được tìm thấy ở di chỉ Hemudu bờ nam sông Dương Tử rất sớm nhưng có thể đó chỉ là lọai lúa hoang. Bắt đầu từ 3000 BC Thần Nông mới phát minh ra cái cày và người Hạ là tộc người phổ biến phưong thức tát nước vào ruộng. Chữ Lê trong cửu Lê đựoc viết như họ Lê , trong chữ ấy có lúa Hòa, có Nhơn, có Thủy do vậy tôi ngờ rằng tộc Hạ là một tộc trong Cửu Li , là tộc người ở xứ Tiền Elam đã phổ biến cách trồng lúa nước cũng như nghề nuôi tằm dệt lụa đến Trung Hoa .

Nghiên cứu về văn học cũng thấy bóng dáng Elam trong ca dao tục ngữ của Chăm và Việt .Các nhà nghiên cứu cho rằng những bộ lạc Ba Tư đầu tiên từ châu Á đến khu vực lãnh thổ Iranngày nay vào khỏang 4000 BC. Một trong những quần cư đầu tiên là Suse, sau này trở thành trung tâm nền văn hóa BaTư. Suse nằm trên cao nguyên Elam, cư dân ở đây gọi là người Elam. Con đường buôn bán đi từ Suse qua cao nguyên Elam đến Sumer. Về thơ ca Ba Tư X Carpusina và V.Carpusin trong Lịch sử Văn hóa thế giới đã đánh giá : “Các thể lọai thơ ca chủ yếu hồi đó là thơ tứ tuyệt (rubai), thơ hai câu, đỏan ca châm biếm (kaxưđa) và trường ca ( Maxiavi). Âm điệu và phúng dụ có ý nghĩa quan trọng. Thơ ca cổ điển BaTư TK X-XV đã để lại cho ta những tên tuổi bất tử .”


Nghiên cứu về trống đồng cũng như những vùng khai quật được nhiều trống đồng như Bắc Việt và Qủang Tây cũng thấy được ngay trống đồng là sản vật của người Tày Nùng nói riêng và người Malayan nói chung. Vì thế tưởng cũng không nên tranh cãi nhiều về nơi xuất phát của trống đồng bởi vì không phải bỗng dưng vua Quang Trung chỉ muốn đòi lại Quảng Đông, Quảng Tây mà không hề đòi lại Vân Nam và Quí Châu. Mọi thứ đều có căn nguyên của nó.



LƯƠNG TRÂM

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06