Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Phong Tục Tập Quán
 Lễ Tết
 PHONG TỤC NGÀY TẾT
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 01/19/2010 :  16:12:54  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote

PHONG TỤC NGÀY TẾT


Ai cũng biết câu tục ngữ: "Có lửa mới có khói" mà tổ tiên đã nói sau biết bao suy niệm và kinh nghiệm dựa theo luật Càn Khôn của Trời Đất Vũ Trụ, đó là cái luật "giá sắc" tức luật "gieo gặt" hay "nhân quả" như mọi người đều biết.
Để nói rằng phong tục tập quán của người mình, cũng là khói của hương thơm, là những điều hay ý đẹp mà mình phải đem áp dụng vào đời sống để thể hiện cái Tính con người, nên tổ tiên mới gọi là thuần phong mỹ tục.
Vì không có gì trong vũ trụ thoát ra khỏi cái Thường Hằng siêu việt mà người ta còn gọi là Vô Cực, Vô Thường, Hư Vô, Hư Linh, hay là Như Lai, là Diệu Hữu, là Chúa, là Thượng Đế,... hay là KHÔNG, là ĐẠO. Vì như tổ tiên đã nói: "Đạo là Đạo (mà mình) không thể xa lìa giây phút" (Đạo dã giả bất khả tu du ly dã). Vì Đạo là Không Thể diễn tả, vì là siêu việt vượt khỏi sức tưởng tượng của lý trí; nhưng lại chứa đựng cả vũ trụ và nếu phải định cái nghĩa thì chỉ có thể nói được là "một âm một dương" như câu: "nhất âm nhất dương chi vị Đạo"(H.T.), và đó là chân lý nền tảng của mọi biến dịch của thiên địa vũ trụ vạn vật, nên không có gì thoát khỏi Đạo.
Vì vậy mà văn hoá dân tộc với phong tục tập quán đều phát xuất từ gốc Đạo và cái phong tục mà người mình vẫn giữ đến nay trong đời sống vào những dịp lễ gia tiên: quan, hôn, tang, tế, cũng như vào dịp các lễ Tết, đó là mâm "ngũ quả". Ngày nay, qua kỹ thuật thời đại với phương tiện truyền tin toàn cầu (internet), nghĩa là chưa tới một giây thì tin tức ở VN đã qua tới Mỹ và đi khắp thế giới, vì vậy mà "văn hoá cội nguồn" đã trở thành "văn hoá toàn cầu" nghĩa là khỏi cần "thận tư", tức là khỏi cần suy nghĩ: đọc sao hiểu vậy, nghe sao nói vậy, sai bậy không màn, miễn sao là mình biết tin tức để cho mình biết cách cư xử giống người ta cho mình khỏi bị cười chê !
Với "văn hoá toàn cầu" thì ý nghĩa về phong tục tập quán cũng đã được toàn cầu hoá theo kiểu hứng chí "xuất khẩu thành văn", mà đâu biết "văn" là nhân, là cội, là nguồn để "hoá" thành "nhân". Cho nên "văn hoá toàn cầu" có thể nói là văn hoá kiểu "google" với "wikipédia" nên cứ tưởng những gì tìm thấy trên internet là đúng, nhất là khi có người thêm vào những chữ để cho đúng thêm như: thừa thãi, lỗi thời, lạc hậu, hủ tục, phong kiến,... thì làm sao mà không đúng được, nếu khi mình không có nền tảng để thận tư ? Nên mình mới nông cạn để tin theo suy luận tưởng tượng của lý trí rồi cứ tưởng thiệt cắm đầu đi "copy & paste"(copier & coller), vô mục văn hoá của trang web mình hay của diễn đàn người Việt, để cho bà con hiểu biết mà thật ra chính mình có hiểu biết gì đâu !
Vì vậy mà "văn hoá toàn cầu" có thể nói là như "mì ăn liền" còn gọi là "mì gói", mà mì gói thì có đủ vị, đủ loại, đủ hiệu... và được đặc biệt sản xuất tứ tung ở Á châu từ Tàu, Nhật, Ấn, Thái, Hàn, Đài (Loan), Hồng (Kông), Việt (Nam),... Tương tự, ý nghĩa văn hoá cội nguồn với phong tục tập quán Việt Nam cũng được diễn giải đủ kiểu bởi trí thức vong bản, giống như là biến chế mì ăn liền vậy ! Để dẫn chứng cho điều tôi vừa nói, sau đây là một trong những ví dụ về "mâm ngũ quả" được cắt nghĩa theo "văn hoá toàn cầu":
Mâm Ngũ Quả
Mỗi năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán, trên bàn thờ mọi gia đình người Việt đều bày mâm ngũ quả. Với màu sắc rực rỡ, hình dáng độc đáo cùng những ý nghĩa sâu xa, mâm ngũ quả làm cho ngày Tết sinh động hơn, thiêng liêng hơn...
Theo quan niệm của người phương Đông xưa, thế giới được tạo nên từ 5 bản nguyên - gọi là "ngũ hành": kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả (lửa), thổ (đất). Tư tưởng cùng hình ảnh "ngũ hành" xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện - một trong số đó là tục lệ thờ mâm ngũ quả ngày Tết của người Việt Nam
Mâm ngũ quả truyền thống của người Việt thường chỉ gồm 5 loại quả, được xếp kiểu hình tháp lên đĩa to hoặc mâm, đặt trên bàn thờ. Ngày nay, cuộc sống hiện đại cùng sự giao lưu phong tục làm cho mâm ngũ quả ít nhiều biến đổi: số quả có thể nhiều hơn 5, cách xếp tự do hơn, trang trí hoa lá, cắm nến để tạo ánh sáng, kết những dây đèn điện tử nhiều màu xung quanh... Tất cả các loại quả trong dịp Tết đều có thể đem bày: chuối, bưởi, phật thủ, dưa hấu, cam, quýt, dừa, na, trứng gà, hồng xiêm, táo v.v... Mỗi loại quả mang một ý nghĩa riêng: nải chuối, phật thủ như bàn tay che chở; bưởi, dưa hấu căng tròn, mát lành hứa hẹn năm mới đầy ngọt ngào, may mắn; hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt...
Mâm ngũ quả ở miền Bắc nhìn chung nhỏ hơn mâm ngũ quả ở miền Nam và không thể thiếu 3 loại quả: chuối, bưởi, quýt (hoặc cam). Mâm ngũ quả miền Nam thì khó có thể thiếu cặp dưa hấu và 4 loại quả: mãng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài, bởi vì cầu - dừa - đủ - xoài theo tiếng người miền Nam có nghĩa là "cầu vừa đủ xài" - mong ước phổ biến nhất của họ trong năm mới ! Một số nhà lại bày thêm trên mâm ngũ quả bình thường một chùm sung và quả đu đủ với ngụ ý cầu mong cuộc sống gia đình sẽ luôn "đầy đủ, sung túc".
Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hoà với màu xanh mát của dưa hấu, đỏ rực của hồng, nâu mịn của hồng xiêm, vàng tươi của bưởi, cam, dứa... Nó thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ ngày Tết cùng những ước vọng lạc quan mà mỗi gia đình mang theo khi bước vào năm mới.
(http://www.dainam.net/forums/showthread.php?t=39870)


Những ý nghĩa mà mỗi người diễn tả theo mơ ước, sở thích, tình cảm hay tin tưởng của mình, nhân dịp đầu năm như "cầu vừa đủ xài" hay "đầy đủ, sung túc, tròn đầy",... thì nói chung đó là khát vọng hạnh phúc của mọi người chớ không chỉ vì "Tư tưởng cùng hình ảnh "ngũ hành" xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của các dân tộc phương Đông với rất nhiều biểu hiện".
Vì Ngũ Hành không phải là "tư tưởng hay hình ảnh với 5 bản nguyên: Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ, để tạo thành thế giới", mà là cơ cấu chân lý nền tảng của Minh Triết Việt tộc, còn gọi là Đạo. Vì Đạo như đã nói ở trên là Vô cực nhưng lại là Thái cực (vô cực nhi thái cực) sinh ra lưỡng nghi, là càn khôn, là trời đất, là thiên hạ, là âm dương, với âm là Không dương là Có, nghĩa là Không mà Có như ngôn ngữ mỗi ngày mà người Việt mình luôn nói trong câu để hỏi là "có không"(?) và đáp lại trong câu trả lời là "không có" (!). Đó là nền tảng âm dương của Đạo mà mình sống qua tiếng nói thường ngày, nhưng đâu có mấy ai nhận thức để mà ý thức Không là Có ?!
"Xin xem lại bài Nét Song Trùng ở quyển Kinh Hùng để biết đó là nét đặc trưng của Việt lý, nó khó vô cùng: vì tính cách hàm hồ căn bản của nó là có-không, không-có. Nếu chỉ hẳn "có là có" như triết Tây, hoặc "không là không" như triết Ấn Độ thì là sự thường. Còn có mà lại không, không mà lại có thì chỉ thấy cách hệ thống nơi Việt tộc với nền siêu hình gọi là "Đạo Trống". Chữ Trống bao hàm cả Có lẫn Không, tức phải Có cái gì mới Không được: cái hang trống, cái nhà trống. Nói Đạo Trống phải hiểu là tâm trí phải được trống trơn không bận tâm đến những gì xảy ra tới hay nghĩ ngợi về những gì đã xảy ra. Đó là điều kiện rất tốt để đạt tâm linh.
Nguyên Nho đã công thức nổi Đạo Trống trong hai chữ âm dương: âm là Không, dương là Có. Về sau Không và Có được mở rộng trong câu nói thời danh là "vô cực nhi thái cực" vô cực mà vẫn thái cực. Đó là dấu Nguyên Nho bảo tồn nổi tính chất hàm hồ của Việt Đạo. Hãy đọc lại câu sách trên sẽ rõ: "bất biến nhi chương, bất động nhi biến, Không, nhưng Không mà lại Có, vì Có mới chương ra được. Bất động là Không, nhưng lại biến được nên là Có. Vô vi là Không nhưng Không mà lại thành, nên là Có: vì Có mới Thành được chứ.
Chính từ trong tư tưởng Có mà Không, Không mà Có này mà nảy ra câu ngạn ngữ "chân không diệu hữu", để sửa lại lối hiểu không là không có gì, mà phải hiểu rằng cái Có với Không đang nói đến ở đây phải hiểu trên đợt siêu hình tâm linh, chứ không được hiểu ở đợt hiện tượng, nơi đây có là có, không là không phân minh rành rọt. Cái có với không này mọi người đều biết và phải dùng hằng ngày trong cõi hữu hình. Muốn đạt "Có Không" kiểu siêu hình phải đi ngược chiều. Muốn Có lại phải đi tìm Không, tìm cho tới cái Chân Không mới trông đạt Diệu Hữu." (Kim-Định, trích tác phẩm "Trùng Phùng Đạo Nội")
Vì vậy Một là thái cực mà cũng là (một) mình với Hai là âm dương, là càn khôn, là trời đất, nên Một với Hai mới là Ba (1+2=3), ở đây xin đừng hiểu theo nghĩa toán học với giá trị tuyệt đối mà phải hiểu với nghĩa huyền số, nghĩa là nghĩa siêu linh, tức một cũng là nghĩa hai ba bốn năm... hay là ngàn với vạn, vì là "vạn vật nhất thể". Cho nên cũng là nghĩa con Người với Trời và Đất là ba ngôi vị, còn gọi là Tam Tài mà là Nhất Thể. Nên từ nền tảng Âm Dương (2) với Tam Tài (3) mới thành ra Ngũ Hành (2+3=5). Chính từ gốc vũ trụ quan đó mà tiếng Việt mình nói "vài ba, lưỡng tham" còn Nho nói là "tham thiên lưỡng địa"; nên đem áp dụng Đạo vào đời qua ngôn ngữ, mới nói là "hai ba" thứ, hay thường nói là "vài ba" cái, nghĩa là nhiều hơn hai...
Nên: "Ngũ hành thành bởi bộ số "vài ba, tham lưỡng". Số 2 là số đất đã rút nhỏ lại cho đỡ duy vật: từ 4 rút xuống 2, còn gọi là vài để chỉ sự biến hóa hầu gảy ra ngoài vũ trụ quan cố định (fixisme). Số 3 Nhân chủ là nhờ con người có nhân chủ tính mới giữ được hai thái cực như trời cao đất thấp. Nhờ đó người có thể và phải giữ vai trò chủ nhân ông trong tiểu thiên địa của mình, thì mới đáng lên bậc là một Tài trong Tam Tài. Trời là vua, Đất là vua, thì rồi Người cũng phải là vua. Phải như sách Trung Dung (câu 10) nói "trung lập nhi bất ỷ" là tự lực không được ỷ lại vào đâu. Số 5 là tâm linh ở tại việc đưa linh thiêng xưa kia vốn ở ngoài con người để đem đặt cả vào lòng mình gọi là "thiên lý tại nhân tâm", biến con người thành thần linh "homo homini deus" người là thần linh cho người (chống homo homini lupus: người là chó sói cho người). Đem chữ Lễ vốn dành riêng cho Thượng Đế áp dụng vào cả con người nữa: khi sống cũng như khi chết: sống là hai lễ quan, hôn, chết là hai lễ tang, tế gọi gọn là lễ gia tiên. Thành thử chọn Trời cũng là Con Người, chọn Người cũng là chọn Trời. Bởi thế bên Việt Nho không có vấn đề hữu thần với vô thần."(Kim-Định, trích TPĐN)
Vì vậy Ngũ Hành là cơ cấu của triết lý nhân sinh với quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ (vũ trụ chi tâm) không phải theo nghĩa "tôi" (ego) là cái rốn của vũ trụ, mà phải hiểu với nghĩa hai chiều đó là Tâm tôi là của vũ trụ và vũ trụ là Tâm tôi (ngô tâm tiện thị vũ trụ).
Hay nói cách khác nếu không có tôi thì làm sao có vũ trụ (của tôi) và nếu không có vũ trụ thì làm sao có tôi ?
"Bởi thế Lục tượng Sơn là một Việt Nho mới nói. "Ngô tâm tiện thị vũ trụ". Xin đừng coi đó là một câu văn chương sáo ngữ, nói lên để tự quan trọng hóa mình; nhưng cần phải hiểu những hệ quả của nó, tức là với quan niệm này, con người coi muôn vật đều bắt rễ nguồn nơi mình "vạn vật giai bị ư ngã" như thế có nghĩa ta lớn vật nhỏ, nên ta mới chứa nổi chúng. Nếu con người đã lớn hơn sự vật thì con người cần sai sử sự vật, bắt sự vật phụng sự mình, nếu để mình bị vật sai sử là tiểu nhân (Đại nhân sử vật, tiểu nhân sử sự vật - Tuân Tử).
Quan niệm người sai sử vật là hệ luận của quan niệm Nhân chủ mà hậu quả lớn hơn hết là tâm trạng vui sống và tổ chức cuộc đời có sinh thú tao nhã. Sinh thú nói đây phải hiểu tự thấp lên cao, từ sinh lý đến tâm thức. Vì "vũ trụ tiện thị ngô tâm" nên nếu điều hợp được tâm tình tức là vũ trụ có hướng. Đời sống cũng vì đấy mà có hướng, là cái gây nên cảnh vui sống. Đó là nét đặc trưng nhất trong nền văn minh Việt nho. Đặc trưng và sâu đậm đến nỗi tuy là miền bị cái nghèo dày vò nhất mà cũng không phá nổi cái "lạc thú ở đời". Tất nhiên đây nói về vũ trụ quan truyền thống của tiên tổ chúng ta.
Còn hiện nay thì người Viễn Đông đang bị xâm chiếm bởi những ý hệ coi đời là vô nghĩa, đầy phi lý… làm bằng khắc khoải lo âu, tâm thần bất an, cám cảnh với cái sống thừa mứa không nơi trú ngụ, không chốn hướng về… Những cảm nghĩ về đời sống đen tối kiểu đó, những quan niệm về con người ti tiện nhỏ nhen đó dù mang tên bất cứ ý hệ nào thì đều bắt nguồn từ quan niệm không gian thời gian đứng độc lập bên ngoài sự vật, kể cả con người.
Lẽ tất nhiên vì bị chứa đựng nên con người trở thành bé nhỏ hơn không thời và bị không thời đóng cũi. Và như thế là bị khuôn đúc theo mô dạng (forme) của sự vật, hoặc nói như nhóm "cơ cấu luận" ngày nay thì "không phải tôi nói, nhưng là sự vật nói qua tôi" (je ne parle pas, je suis parlé). Nói khác đi tôi là bồi cho sự vật bởi vì khi dùng óc điện tử thí dụ để suy nghĩ thay cho con người thì con người chỉ còn việc thu nhặt tài liệu, làm các thống kê đưa nạp cho máy và ngồi chờ kết luận. Lý luận máy kiểu đó có thể hay cho việc làm cơ khí xây nhà lập xưởng buôn, nhưng đem áp dụng cho tình người là đẩy xa thêm đà nô lệ, làm sâu đậm thêm thảm trạng con người bị vong thân." (Kim-Định, trích tác phẩm Chữ Thời)
Từ vũ trụ quan với chân lý nền tảng bất dịch (âm dương) nhưng biến dịch với cơ cấu tam tài và ngũ hành, đó là triết lý Nhân của Đạo, nên khi áp dụng vào đời sống (sinh) con người thì phải cho thành quả, là ý nghĩa của thành Nhân. Cho nên mâm "ngũ quả" phải có trên bàn thờ gia tiên vào mọi dịp Lễ Tết là để nhắc cho mình và mọi người trong gia đình cái nghĩa "khắc kỷ phục lễ" đó. Vì Lễ không phải là nghĩa lễ lạy để cầu xin khấn vái, cho an khang thịnh vượng với hạnh phúc tràn đầy, vì khấn xin gì nữa khi Trời Đất đã phú cho mình cái Tính bản nhiên với Thiên Mệnh rồi, nghĩa mình cũng là Trời Đất với "đầu đội Trời chân đạp Đất" rồi, có cả vũ trụ cho mình rồi còn đòi gì nữa ?! Nên nếu mình còn khấn còn xin thì là tại mình không có Tính vì mình không biết Tính, nên mình chưa phải (là) Tài mà mình chỉ là tài phiệt, tài xế, tài xỉu... chớ không phải là tài nghệ với tài đức, tài ba (trí-nhân-dũng). Nên "Lễ" phải hiểu với nghĩa "tế tự" là nghĩa quy tâm để nhận thức và ý thức cái đức Nhân nơi mình để tự kính, tự trọng, tự chủ để làm cho lớn cái đức Nhân mà đem lòng thương yêu mọi người. Đó là cái đích tối cao của Lễ vì: "Giáo dân tương ái, thượng hạ dụng tình, lễ chi chí dã" (Kinh Lễ 21.3), hay nói cách khác Lễ nghĩa là có ý cho dân biết hỗ tương yêu quý nhau, trên dưới dụng tình hơn lý.
Ngoài ra những phong tục như đón giao thừa, trồng cây nêu, đốt pháo, mừng tuổi, lì xì, xuất hành, xông đất,... thì tôi thiết tưởng từ nay mọi người có thể tự suy diễn thêm ra theo ý nghĩa nền tảng và cơ cấu của Đạo vừa nói trên, là ý nghĩa Thái Hoà với sự tương giao, thông hiệp, hoà đồng tiết nhịp giữa con người với vũ trụ vạn vật (thiên địa vị yên, vạn vật dục yên). Nên tất cả hành động phải đều quy về đối tượng và cứu cánh là con người với vũ trụ là Một, chớ không có chuyện bái vật với khấn lạy thần linh và cúng vái bất cứ thần nào, hay là xua tà ma đuổi quỷ nào hết; vì Minh Triết xây trên con người lấy minh Tâm làm đường đi, lấy thành Tính làm chỗ đến là đã vượt qua giai đoạn bái vật và ý hệ, nên cũng là gọi là Đạo, tức là phải: "chu tri hồ vạn vật nhi đạo tế thiên hạ, cố bất quá": biết vạn vật đến chỗ tròn đầy thì mới là con đường tế thế mà không rơi vào quá đáng.
Nên Đạo mới là thuốc cứu, là ngải, là bùa cho con người vượt lên khỏi những tư tưởng mê tín dị đoan làm ngãng bước tiến hoá mà tận cùng là nhân tính tức là tiến đến chỗ làm con người cho hết các chiều kích của người để đáng gọi là "nhân linh ư vạn vật". Vì vậy mà tôi mới nói những diễn giải ý nghĩa văn hoá phong tục theo dư luận tin tưởng của quần chúng với suy luận biện chứng của lý trí là văn hoá "mì ăn liền", nghĩa là muốn nói sao nói thì đó chỉ là chân lý đúng với, chân lý của... hay còn gọi là chân lý đối tượng. Vì là chân lý là Chân Không, nghĩa là "Không Có" gì hết, không có đối với cũng không có đối tượng.

Đón Giao Thừa
Chữ Giao viết với bộ thủ chữ Hán là (âm) Hào (như 2 dấu nhân, trên nhỏ dưới lớn) tức là "giao nhau" theo nghĩa câu trong Kinh Dịch: "Thiên địa giao nhi vạn vật thông, thượng hạ giao nhi kỳ chí đồng", nghĩa là "Trời đất giao mà vạn vật thông, trên dưới giao mà chí giống nhau". Giao ở đây cũng có nghĩa là khoảng trước và sau giao tiếp với nhau, tức là thời điểm cũ và mới giao tiếp nhau để nối tiếp (nghĩa chữ thừa) việc "sinh sinh hóa hóa" của trời đất vũ trụ vạn vật. Chớ không phải là nghĩa giao lại năm cũ rồi tiếp (thừa) nhận năm mới, thì đó mới chỉ là nghĩa ở vòng ngoài theo lý trí con người, chứ Trời Đất nào đâu có cũ với mới, có đầu với đuôi, có năm với tháng,… nghĩa là "vô thủy vô chung": không có đầu không có cuối.
Nên ở đây phải hiểu với nghĩa con người là Giao của chỉ Trời đức Đất để thành hình Người, rồi tiếp tục biến đổi và sinh hóa theo luật biến dịch và bất dịch của Trời Đất, bằng cách hành (động) nghĩa là tài tác với tài đức cho tài nghệ. Vì chữ Thừa cũng được viết với bộ thủ (tay) ở giữa, là nghĩa con người muốn tài tác thì phải dùng tới tay và tất cả động tác để thành công đều do tay làm ra, và như vậy mới là tài. Vì ý nghĩa (tương) Giao này là nền tảng của Đạo Trời, như bài thơ sông Tương sau đây :
Sông Tương chảy hai chiều
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy.

Hình ảnh sông Tương nói lên ý nghĩa tương giao hai chiều của vạn sự và vạn vật trong trời đất. Như Quân là chàng ở đầu sông, và Thiếp là nàng ở cuối sông. Chàng và nàng nhớ (nghĩ đến) nhau nhưng không thấy mặt nhau, mà lại cùng nhau uống nước giòng sông Tương. Chàng và Nàng ở đây là Âm Dương, là lưỡng cực, lưỡng nghi, là con Người với Trời Đất Vũ Trụ, nhớ nhau nhưng không thấy nhau, tức là con người từ khi hiện hữu đến lúc tan biến, luôn đi tìm về với nhau để cùng nhau uống nước, tức để sống với nhau, là ý nghĩa con người với Trời Đất là tương đồng, tương xứng,... nên cần có nhau để tương giao hoà hợp.
Vì sông là Nước, "Thủy vi vạn vật chi nguyên": Nước là nguyên thủy của vạn vật... Tương là tương giao, tương sinh, tương đối, tương khắc, tương đồng, tương hợp, tương kiến, tương tư,… và ý nghĩa đó cũng đã thể hiện vào đời sống của Việt tộc từ ngàn xưa qua ca dao như :
Miếng trầu là nghĩa tương giao.
Muốn chờ đây đấy duyên vào hợp duyên.
hay :
Đôi ta là nợ là tình,
Là duyên là kiếp đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng
hay :
Bao giờ tài sắc tương giao
Thì ta mở khóa động đào đón nhau

Tương tự, ý nghĩa Hành là tài tác với hai tay để xách nước, để bắt cá, đề hái dưa, hay để lạy, để xá… cũng đều được diễn tả một cách tài tình qua ca dao như :
Đi ngang nhà má,
Hai tay con xá,
Hai cẳng con quì
Lòng thương con má
Xá gì thân con.
hay
Hai tay xách nước tưới trầu,
Trầu bao nhiêu lá, dạ sầu bấy nhiêu.
hay
Chợ chiều nhiều khế ế chanh
Nhiều con gái quá nên anh chàng ràng
Chàng ràng bắt cá hai tay
Cá kia sẩy mất, chim bay về rừng
hay
Hai tay cầm bốn trái dưa
Trái ăn, trái để, trái đưa cho chàng
Tay cầm cuốn sách bìa vàng
Sách bao nhiêu chữ, dạ thương chàng bấy nhiêu

Và đó là nghĩa của "giao"… để cảm (giao cảm), để thông (giao thông), để đồng (đồng giao), để ước (giao ước), để hòa (giao hòa), để kết (giao kết), để hợp (giao hợp), để hoan (giao hoan), để tụ (giao tụ) về một điểm (giao điểm),… là Nhất Thể, là Thái Cực, là Tình Yêu, là Hạnh Phúc.



Cây nêu
Là cây tre đã tỉa lá thường cao năm thước (ngũ hành) dựng thẳng đứng (nét dọc=trời) ở sân đất (nét ngang=đất) trước nhà hay đầu hè như ca dao còn nói:

Dựng nêu thì dựng đầu hè
Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung

ở trên chóp đầu cây thường gắn một vòng tròn để luồn sợi dây rồi treo những biểu tượng có ý nghĩa thông hiệp với Trời Đất lên như hình cá chép (ý nghĩa hoá rồng) cho ông Táo quy thiên (về Trời), hay lá ngải (và mời bạn chịu khó đọc tiếp phần trích dẫn dưới đây để hiểu ý nghĩa lá ngải là gì để đừng có tin kiểu u mê nữa thì chỉ là mê tín rồi phản loạn đi chê mỹ tục là hủ tục):

"Còn bên triết Việt Nho thì Thôi Vĩ rơi xuống hạng sâu đã được con rồng chở lên mặt hang rồi đi lấy được một vợ rất đẹp như Minh triết. Câu chuyện như sau: Một nàng tiên đánh vỡ bình, được Thôi Vĩ cởi áo đền thay cho. Tiên đền ơn cho Thôi Vĩ bằng cho một lá ngải bảo giữ cẩn thận vì chữa được bệnh nhục ảnh. Đến sau Vĩ bị người ta bắt để tế cho thần Xương Cuồng, trong khi đi trốn nhỡ chân rơi xuống một cái hang sâu không lên được, ở trong có một con rắn trắng dài trăm thước mỏ vàng miệng đỏ, vảy bạc, dưới cằm có một cái bướu thịt, trên trán có ba chữ "Vương tử xà" bò ra ăn thạch nhũ ngửa mặt thấy Vĩ thì muốn nuốt đi, Thôi Vĩ sợ quá quỳ xuống thưa: "thần bị nạn rơi xuống đây, đói bụng nên có ăn trộm vật, thực là có tội. Dưới cằm Vương có một cái nhọt, thần xin lấy ngải cứu lành. Bạch xà lập tức ngẩng đầu lên cho Vĩ cứu cái nhọt liền tiêu ngay, rắn khom mình bảo Vĩ cỡi lên lưng rồi bò ra khỏi hang để Vĩ lên bờ. Vĩ trở về lấy được vợ Tiên và được ban cho viên ngọc Long Toại, trở nên giàu sang… (xem chi tiết trong Việt Tỉnh, Lĩnh Nam). Câu chuyện đầy ý nghĩa và rất dễ đọc ra, chỉ cần ghi ít lời chú thích như sau:
1) Thôi Vĩ: Thôi là lớn mạnh. Chữ Vĩ làm liên tưởng đến cái gì tế vi, hoặc là đuôi tức cái gì cùng cực. Hai chữ Thôi Vĩ chỉ người chú ý đến cái tế vi, chú ý đến Đạo. Đạo là chỗ chí cực của vật (đạo vật chí cực).
2) Ngải cứu: ai cũng biết là một vị thuốc mà tự dạng lại gồm có chữ nghệ tức là nền tảng kinh Dịch và là hai nét Trời và Đất giao thoa. Có lẽ vì lá ngải là vị thuộc rất hay và có tính chất phổ biến nên người xưa đã viết cách cao trọng như vậy. Có điều chắc là từ rất lâu xưa đã có niềm tin rằng lá ngải hái lúc gà vừa gáy ngày mồng 5 tháng năm rồi cho vào cái túi treo trước cửa nhà thì tránh được sét đánh (Danses 532). Chúng ta dễ nhận thấy những tin tưởng dị đoan này có thể phát xuất do biểu tượng lá ngải là đất có số 2 gặp trời số 3 là 5 tức là tinh hoa của nền Minh triết nông nghiệp (bộ thảo) nhờ nó mà chữa được cái bệnh nhục ảnh.
3) Nhục ảnh: là những ý nghĩa tai hại che khuất lý trí không cho thấy sự thực, nó có hại một là cuồng tín gọi là Xương Cuồng và hai là như ý hệ, gọi là rơi xuống hang.
4) Thần Xương Cuồng: hay nữa là ý tưởng của lũ đông, tức những tin tưởng dị đoan, những vu tưởng, những ý nghĩ của lưu tục.
5) Rơi xuống hang: có thể chỉ những ý hệ hay cả những dư luận suy tưởng của lũ đông nó làm nên một thứ hang giam giữ tâm trí con người. Thôi Vĩ cũng tin theo như ai nhưng may mắn thóat được là nhờ có lá ngải và do đấy làm quen được với con rắn.
6) Con rắn: dài trăm thước mỏ vàng miệng đỏ là vật tổ Long của Bách Việt, có màu cờ của Si Vưu nền vàng có miếng tròn đỏ ở giữa. Đó cũng là cái Long đức của Kinh Dịch, ai hiểu được thì có thể cỡi sáu rồng mà đi lên trên đường tiến hóa tâm linh để đạt Minh Triết nói bóng là lấy được vợ và được ngọc Long Toại.
Đó là câu truyện Việt Tỉnh, là một trang huyền sử của nước ta. Huyền sử kể truyện hôm qua để nói về hôm nay cũng như về mai hậu. Vì nó vượt thời gian nên đầy tính cách thời sự: nó nói tiên tri bi trạng nước ta hiện nay. Nhưng nó cũng là Việt Nho không bao giờ chịu thúc thủ, nên cũng chỉ luôn ra phương thuốc để chữa bệnh, bệnh là nhục ảnh, thuốc là ngải cứu tức Kinh Dịch. (Kim-Định, trích tác phẩm Dịch Kinh Linh Thể)

Đốt pháo
Ai cũng tưởng đốt pháo là để xua đuổi tà ma quỷ ác để cho năm mới mình đừng bị ma nhập quỷ ám hay phá rối công chuyện của mình. Nói như vậy là ma quỷ bỏ chạy hết mỗi lần nghe tiếng pháo nổ, rồi khi nào hết pháo nổ thì ma quỷ trở về lại hay sao? Như vậy thì phải đốt pháo mỗi ngày như tụng kinh gỏ mõ mới đúng chứ ? Cũng có học giả cho rằng tiếng pháo nổ giống như tiếng sấm sét là để cầu Trời cho mưa xuống vào đầu mùa Xuân cho cây cỏ tươi phát khi đâm mầm nứt lá; nghĩa lý này nghe cũng tạm được đối với một dân tộc sống nghề nông nghiệp, nhưng theo tôi nó không có đượm ý nghĩa Thái Hoà.
Vì với quan niệm con người là:
Ở đâu mà chẳng biết ta
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên Lôi
Xưa kia ta ở trên Trời
Đứt dây rơi xuống làm người thế gian
(ca dao)
nên khát vọng mà cũng là cứu cánh của con người là trở về với chính mình, tức là trở về nguồn như hình ảnh ông Táo quy thiên (hay E.T. go home), đó là ý nghĩa của "lá rụng về cội". Thì với tiếng pháo nổ như sấm chính là niềm vui và hạnh phúc khi nhận thức và ý thức được mình là con ông Sấm và cháu bà Thiên Lôi, tức con người là giao chỉ của đức Trời đức Đất, là Nhân với Tính Thiên Mệnh.

Vì chữ "pháo" qua chữ Hán viết với bộ thủ là Hỏa (ở trước) ghép với bộ "bao" là bao bọc (ở trên) với bộ "kỷ" (ở dưới) là thân mình, chứ không hẳn là bộ tiết là nghĩa dấu ấn, vì bộ "kỷ" với bộ "tiết" viết rất giống nhau, nên theo tôi chữ Pháo phải hiểu theo với nghĩa Nhân Tài. Nhưng tại sao pháo nổ mà là nghĩa nhân tài ?

Thưa, như trong bài "Ông Táo là ai" tôi đã cắt nghĩa chữ Hỏa được viết bằng chữ "nhân" với hai nét nhỏ hai bên (như hai tay), tức ý nghĩa con người là cái đức của trời đất, là giao điểm của âm dương, là nơi quỷ thần tụ hội, là cái khí tinh tế của ngũ hành.

Theo vật lý ai cũng biết là điện âm với điện dương ở một cường độ nào đó mà giao (chạm) nhau thì nổ như sấm sét, và đó là hiện tượng tự nhiên của thiên nhiên. Tương tự, Pháo là ý nghĩa con người như thuốc súng là Tính Khí của Trời và Năng Lực của Đất, được pha trộn với nhiều chất là Ngũ Hành, và được bao bọc bởi cái vỏ lốt người, để khi con người sống quy tâm, thành Đại Ngã, tức là làm sao cho đạo Trời đức Đất quy tụ nơi tâm mình, lòng mình để thành quả, thành hạt (nguyên tử, với nghĩa "nguyên con") là Nhân, là Đức (énergie spirituelle), là ngòi nổ (Hoả), thì sẽ cháy sáng và nổ tung với chiều kích vô biên, đó là Đại Ngã Tâm Linh. Sống được như vậy mới là Tài, là Đức, là Nghệ thì đúng là Nhân tài. Vì bản Tính mình giống sấm, giống pháo cho nên khoái "nổ"(!), nhưng tại vì mình chưa biết "khắc kỷ" để biến cái tiểu ngã của mình thành đại ngã để "nổ" như sấm với chiều kích vô biên, thì lại theo luật bù trừ nên mới đi làm pháo, làm bom, làm đạn để cho nổ đở ghiền…, nhưng quên mất là khói pháo làm cay mắt, mùi pháo làm ngộp thở… thì nói gì đến biết bao tang tóc… của bom đạn do con người chế tạo ra, thì cũng chỉ vì khoái "nổ" !

Mừng Tuổi (hay chúc Thọ).

Vì Tết là lễ sinh nhật của con người cùng với vũ trụ, là ý nghĩa Tam Tài với thiên-địa-nhân, nên nhân cũng là nhân tài là con người biết tài tác, với tài đức và tài nghệ, nghĩa là tự "sắp đặt" vũ trụ vạn vật để dành cho mình một chỗ đứng quan trọng. Đây là một quan niệm nhân sinh thuận lợi cho cuộc sống của con người, mà ngôi vị của con người được sánh ngang hàng với Trời Đất, nên mới gọi là Nhân Hoàng như Thiên Hoàng, Địa Hoàng, và trong vũ trụ con người lại giữ vai trò then chốt nên gọi là "vũ trụ chi tâm" (trái tim của vũ trụ). Và đó là nền tảng trong Nhân Chủ, và cũng là điều đã bị quên lãng, nên gọi là vong thân, tức là nói vong đi, quên mất, làm mất chiều kích vô biên đó của Tâm Linh.

Cho nên muốn "sắp đặt" vũ trụ con người phải "khắc kỷ phục lễ", tức phải quy tâm (sống nội tâm) để nhận thức ra chiều kích vô biên đó và ý thức mình cũng là tâm của vũ trụ, để nuôi dưỡng cho chiều kích đó lớn lên mãi, lớn tới cái mức của vũ trụ, để thành Đại Ngã tức thành Nhân, thành Thánh. Quan niệm này đã làm cho người mình được: "ăn với đất vui với trời" như câu "giao thực hồ địa, giao lạc hồ thiên", vì có "trời che đất chở" nên không phải lo lắng quá sức, mà chỉ lo hành không vì bắt buộc (cưỡng hành), nhưng là tài cho nghệ, cho hay mà không hề chờ được khen, được thưởng, được lợi (lợi hành), mà vì là chuyện đáng làm cho thỏa chí say mê vui thích (an hành). Đó là triết lý sống của Việt tộc mà triết gia Kim-Định đã khôi phục lại và đặt tên là triết lý An-Vi.

Nên với nhân sinh quan đó, con người là giao chỉ của đức Trời và đức Đất, nên Việt tộc mới thờ người (đạo ông bà), vì con người là Nhân, là Đức, là Tính của Trời Đất. Nên để biểu lộ Nhân Đức đó cách cụ thể thì phải sống hai đức Hiếu và Đễ, vì Hiếu là trọng cái nguồn gốc sự sống là Trời Đất, tức cha mẹ là những người đã truyền sinh cho mình, và Đễ là trọng kính sự sống nơi con người nào đã bảo toàn được sự sống lâu hơn mình, hầu để học hỏi kinh nghiệm sống. Cho nên ca dao đã có những câu rất hay để chỉ dạy cho mình cách sống cho Hiếu cho Đễ, như :

Thờ cha kính mẹ hết lòng
Ấy là chữ Hiếu dạy con luân thường

Chữ Đễ nghĩa là chữ nhường
Nhường anh nhường chị lại nhường người trên

Ghi lòng tạc dạ chớ quên
Con em phải giữ lấy nền con em

Nên phong tục Mừng Tuổi hay chúc Thọ là để "Cung Kính", tức là để Trọng mình và Kính người. Vì "Tu kỳ dĩ kính. Tu kỷ dĩ an nhơn. Tu kỷ dĩ an bá tánh" (LN. XIV.45), nghĩa là: "Tu thân mình bằng lòng kính tôn người. Tu thân như thế là cách an hòa với người khác với mọi người." Do đó người quân tử phải "hành đốc kính"(LN. XV.5), nghĩa là phải hết lòng mở mang đức kính trong mình.

Lì Xì
Còn "lì xì" là tiếng Hán nói trại ra từ chữ "lợi thị" với nghĩa là lợi lộc, tiền của, hay giàu có với sự mua bán đổi chác… vì người ta hay hiểu theo kiểu vật chất bề ngoài. Nhưng chữ "lợi thị" chữ "thị" ở đây viết với bộ thủ (âm) "kỳ" mà bộ kỳ là nghĩa thần đất, như vậy theo tôi phải hiểu theo nghĩa "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", tức là nghĩa thuận lợi và tốt đẹp bền vững cho mọi chuyện (mỹ lợi), là nghĩa hòa hợp những cái thích nghi cân xứng ("lợi" là 1 trong 4 đức tính của quẻ Càn: nguyên, hanh, lợi, trinh), và đó là nghĩa may mắn mà người mình thường chúc cho nhau. Vì vậy bao lì xì luôn luôn là màu đỏ tức màu Hỏa, vì Hoả biểu tượng ánh sáng hoả châu soi cho "tâm thức" con người để biết đường sống Đạo. Nên người ta hay nói "số đỏ" là số hên, là số có lợi với ý nghĩa biết hoà hợp để thích nghi và tiến hoá, để thành Tài thành Nhân. Vì vậy mà giấy bạc (tiền) mới trong bao lì xì là ý nghĩa cầu chúc cho mình có "lợi" lộc trong năm mới.

Xuất Hành
Như đã nói ở trên Đạo Việt không có mê tín vì tất cả đều phải Biết vì: "tri nhân tất tri thiên tri địa", nên nếu tin tưởng vào ý nghĩa xuất hành theo hướng, theo tuổi theo mạng là để đón thần tài, thần lộc, thần mộc, thần kim, thần hoả, thần thủy, thần thổ, thần may hay thần sầu đi nữa, thì đều là mê tín ! Nhưng phải hiểu "xuất hành" ở đây là ý nghĩa "suất Tính", tức là phải noi theo Tính thiên mệnh để mà sống Nhân Tính nghĩa là Hành. Như trên đã nói tức là Hành động mà không có đối tượng để tránh cho lòng khỏi chấp vào đâu cả, đặng thong thả tiến lên cõi Đạo là cái toàn thể bao la gồm cả Trời Đất Người chứ không quy hướng vào một đối vật bé nhỏ nào hết.

Xông Đất
Xông đây là chữ Xung đọc trại, mà Xung (chữ Nho) viết với bộ "hành" có nghĩa là xông thẳng lên, dựng thẳng lên, xông ra, sấn thẳng vào, đụng vào, chạm vào, hướng về, con đường lớn thông ra chung quanh. Còn Xung viết với bộ "thủy" ghép với chữ "trung" là nghĩa trống rỗng, tức nghĩa Đạo là nghĩa hoà hợp sâu thẳm (chí trung hoà). Nên phong tục xông đất phải hiểu với nghĩa là mình phải quy về, hướng về, xông vào, sấn vào tận sâu thẳm để hoà hợp với vũ trụ, đó là nghĩa Chí Trung Hoà để đạt Thái Hoà với Trời Đất vạn vật. Nói một cách cụ thể nghĩa là phải mừng đón Chúa Xuân với hết ý tình chí để mình được An Vui Hạnh Phúc ở đây và ngay bây giờ. Chớ không phải chờ ai có phước đức hay mang tên phước đức, hạnh phúc, giàu sang để dậm đất nhà mình như vậy là xông đất đâu, thì đó rõ là dị đoan mê tín !
Còn nhiều thói tục khác trong ba ngày Tết như không quét nhà ra ngoài hay không đổ rác, vì sợ quanh năm tiền của ra khỏi nhà mất, hay không xách nước vì động giếng, không sát sinh, hay không la hét to tiếng, v.v... thì đó là những dị đoan mà người ta tưởng tượng rồi gán ghép không nền tảng. Nhưng thiệt ra tất cả những kiêng kỵ mà người ta bày vẽ ra trong ba ngày Tết đặc biệt là ngày mồng một cũng tự nhiên thôi, vì trong tiềm thức với sự kính trọng Nhân Tính mà Trời phú cho con người, bắt đầu ở tất cả những gì mới phát sinh (thiên sinh ư tý) từ nơi mỗi người đến toàn vạn vật. Vì vậy không nên quét nhà, đổ rác, xách nước, v.v... là để kính trọng mầm khí mới sinh của vạn vật vũ trụ mà con người cũng thuộc về; vì vậy mà mới nói là người quân tử phải "hành đốc kính"(LN. XV.5).

Đó là những ý nghĩa từ cội nguồn văn hoá và phong tục tập quán là phong cách và tập tục để sống Đạo làm người, nên còn gọi là mỹ tục và vì đã là mỹ tục thì không đời nào có thể biến thành hủ tục. Nhưng vì mình bị mất nguồn, mất gốc nên vong bản đâm ra vong thân rồi mới đi chê phong tục tập quán và cho là hủ tục, lỗi thời hay đị đoan mê tín thì tại vì mình u mê mà thôi. Nên tôi hy vọng từ nay mỗi người Việt mình nhận thức được cái dân tộc tính qua những phong tục ngày Tết, để sống ý thức với nhân tính bằng cách thông giao hoà hợp với Trời Đất trước bàn thờ gia tiên, nhân dịp Tết Nguyên Đán và cũng là lễ sinh nhật con người, để vui với Trời và ăn với Đất qua cái bánh chưng, bánh dầy, bánh tét,... bằng cách sống chia sẻ ý nghĩa này với con cháu cho vuông tròn, hầu mong cho một ngày gần đây, con cháu mình sẽ hãnh diện để trở về xây đắp lại quê hương trong tinh thần dân tộc đó là:
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn (!)

Viết xong ngày 22/01/2009
(tức 27 tháng chạp năm Mậu Tý)

Tác giả Nguyễn Sơn Hà

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 01/26/2010 :  11:55:28  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote

Ba mươi Tết

Tết là cái gì đó thiêng liêng lắm trong tâm trí tôi và dù hôm nay tôi đã lớn, đã trưởng thành nhưng mỗi khi Tết tới gần, lòng vẫn thấy nao nao, bâng khuâng một cảm xúc khó tả, chợt vui như trẻ thơ vậy.

Xuân này mẹ có may cho con áo mới? Mái nhà xưa, cho chúng con đi mỗi cuộc đời.

VietSpirit

Trong một năm có hai ngày rất đặc biệt đối với tôi, đó là ngày Giáng sinh và ba mươi Tết. Nhà tôi nằm bên một xóm nhỏ nhìn ra cánh đồng, bố mẹ đều làm ruộng nên ngày ba mươi rất bận rộn với bao nhiêu màu mè, hàng họ của người nhà nông. Bố mẹ thường phải dậy từ một giờ sáng để đi chợ. Nào cà chua, su hào, khoai tây... Có khi phải đi đến hai ba chuyến chợ.



Nồi thịt đông và nồi cá kho đã nấu từ hôm hai tám, hai chín Tết. Trước khi đi chợ, bố mẹ không quên gọi tôi dậy dặn dò, bố bảo: "Hôm nay bố mẹ bận, con nhớ dậy sớm vớt bánh chưng ra để trưa bố về ép, quét dọn từ nhà ra ngõ cho thật sạch, trưa bố mẹ về là phải xong hết".

Bố thắp một nén hương nhỏ trên bàn thờ, mùi hương Tết thoang thoảng đưa trong màn đêm dịu nhẹ, lạ kỳ một cảm giác nôn nao khó tả, chiếc radio vặn nhỏ trong căn phòng im ắng, tôi nghe: "Tối hôm qua ấy mấy cô nàng ơi, ấy mấy anh chàng ơi... Tỉnh ra là mới biết mơ màng... Tối hôm qua..."

Khi còn bé tôi có biệt danh là "Bộ trưởng bộ khói um" vì suốt ngày chăm lo việc cơm cháo dọn dẹp và học bài. Dù ở quê, xong tôi không phải làm ruộng nhiều như đám bạn, bố mẹ vất vả nhưng luôn ưu tiên cho tôi học hành. Tôi dậy từ mờ mờ sáng, vặn to chiếc radio mấy chương trình ca nhạc trên FM, vừa nghe vừa bắt đầu dọn nhà, tôi yêu cái công việc của mình, bình dị mà thật vui và hạnh phúc.

Dọn một vòng từ nhà ra ngõ, đằng sau, đằng trước, thỉnh thoảng lại khe khẽ hát theo các giai điệu mùa xuân trên đài. Cô hàng xóm nhà bên hình như cũng đã dậy dọn dẹp tự bao giờ. Nồi bánh chưng do chính tay tôi gói bố đã canh cả đêm qua bên bếp than hồng để luộc. Tôi gói riêng ra ba cái bé hơn chút xíu cho ba anh em thử trước, ba cái cuối cùng nhiều nhân đậu và thịt.

Gần trưa, công việc bố mẹ dặn đã xong, hai đứa em cũng ngủ dậy chạy vào nhà các bác trong xóm chơi. Tôi ngắm nghía lại một vòng khoái trá, thế là Tết đến thật rồi. Vừa chờ bố mẹ đi chợ về, tôi vừa mơn man nghĩ đến ngày mai, nghĩ đến Tết, đến một bóng hồng xinh xinh trong lớp tôi đang trộm nhớ thầm.

Quần áo Tết cho mấy anh em mẹ đã nhờ bác hàng xóm may từ đầu tháng. Năm nào cũng thế cứ chiều ba mươi là anh em tôi được diện, còn các nhà khác thì phải sáng mồng Một cơ, tôi thích lắm. Trưa ba mươi bố mẹ thường mua lòng lợn, lòng lợn ba mươi thì rẻ, dạo đó còn nghèo, mấy khi được ăn thịt. Lòng lợn là món tôi khá thích, lòng xào, lòng luộc... Bố thường gọi chú Năm bên hàng xóm và bác cả ra uống rượu cùng cho vui.

Cơm trưa xong xuôi bốn bố con vào nhà bác cả rồi cùng đi tảo mộ ông bà nội, mẹ ở nhà chuẩn bị lễ mang vào các bác cúng ông bà, rồi đi thanh toán các khoản nợ nần với quán xá cho gọn năm cũ...

Chiều ba mươi, nắng vàng nhè nhẹ trên đường thôn, gió xuân mới, mấy bố con, bác cháu cùng tản bộ ra tận cánh đồng xa. Vừa đi bố và bác vừa kể chuyện về Tết xưa, về ông bà cho chúng tôi nghe, giọng bố chầm chậm, mỗi câu chuyện đều khiến tôi nhớ mãi, xúc động. Đường ra đồng đông vui tấp nập những nhà đi tảo mộ, ngoài hương vàng, họ còn mang thêm nước thơm, vôi, cây hoa để trang trí cho nhà của ông bà tổ tiên.

Có nhà đi sớm hơn thì đã trở về, tiếng chào hỏi nhau xôn xao vui vẻ khắp đường quê, "Năm nay nhà bác ăn Tết to không?", "Tết năm nay chú qua nhà anh xông đất nhé"...
Cứ thế, cứ thế... dài mãi cái tình làng mộc mạc bình dị quê hương.

Về đến nhà trời đã đứng nắng, trong nhà vẫn mùi hương Tết dịu nhẹ, mâm ngũ quả và bánh chưng xanh được mẹ bày lên bàn thờ. Năm nào cũng vậy tôi thấy mẹ ngồi hong tóc ngoài hiên, sau những ngày vất vả mẹ cười thật hiền trong chiếc áo hoa mới, tóc mẹ thơm mùi hương bồ kết, hương nhu...

Những năm đầu tóc mẹ còn xanh rồi những năm sau tóc mẹ bạc dần mà tôi không hay biết, nhưng vẫn là những hình ảnh thân quen đó khi nắng chiều dần xuống. Trong bếp mẹ đang chuẩn bị rán bánh, làm cơm để đón ông vải về nhà. Nhà tôi toàn con trai và chật nên chẳng bao giờ có đào, quất, cũng không có hoa tươi nhưng tình cảm và hơi ấm mùa xuân thì chưa bao giờ thiếu cả.

Bố có khi cao hứng còn làm vài câu thơ tặng mẹ rồi đọc cho mấy anh em nghe cho khí thế. Bố tuyên bố: "Ba đứa tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo Tết rồi cho đi chơi, từ giờ đến hết Tết không phải làm gì cả, đi chơi nếu đói thì về nhà hoặc vào các bác mà ăn". Anh em chúng tôi chỉ đợi có vậy.

Bố mẹ tôi đều là con út nên chiều ba mươi chỉ thắp hương chứ không đón ông vải ở nhà. Nhà tôi được chia làm hai cánh quân, bố và thằng út thì vào bác cả bên ngoại, ba mẹ con thì vào bác cả bên nội để ăn cơm tất niên. Bữa cơm tất niên sum vầy ấm áp, mấy anh em thắp hương cho ông bà rồi vái nữa, các bác hỏi thăm và căn dặn chúng tôi chăm ngoan học hành, ăn xong mẹ ở lại dọn dẹp và nói chuyện còn chúng tôi thì tót đi chơi.

Năm ngoái bỗng nhiên tôi nhớ đến sinh nhật bố, bố tôi sinh vào ngày mồng một Tết âm lịch. Thời của bố, ông bà không nhớ ngày dương như bây giờ. Lần đầu tiên tôi đi mua một bó hoa để tặng bố mẹ. Chiều ba mươi, phóng xe vòng vèo mãi mới chọn được một bó mà không ưng ý lắm, tôi vốn rất vụng về khi mua quà. Bỗng nhiên khi ấy tôi muốn mình có vợ, có người yêu để chia sẻ, yêu thương trong cuộc đời này. Có lẽ tôi đã lớn thật.

Món quà nhỏ mà khiến bố thật cảm động. Bố vui lắm, con của bố đã lớn rồi. Giữa tôi và bố không chỉ là tình phụ tử mà còn là "trái tim của những người đàn ông", những rung động đam mê, khắc khoải trước cuộc sống, những nơi con và bố đi qua.

Ngày tháng cứ trôi đi, anh em tôi lớn khôn rồi sẽ xa quê lập nghiệp, tóc mẹ cha rồi cũng bạc để ban lại yêu thương và hạnh phúc cho các con. Nhưng nơi mái nhà mình ấy mỗi chiều ba mươi vẫn sẽ mãi sum vầy ấm áp...
Tóc mẹ sẽ lại thơm bên mái hiên...
Bố sẽ lại làm thơ tặng mẹ...
Và chúng con rồi sẽ lại về như lúc trẻ thơ.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 04/20/2010 :  04:30:03  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote

quote:
Originally posted by langthang09


Bầu Cua Cá Cọp


Mỗi năm cứ đến ngày tết , từ trong các ngõ ngách đường phố Sàigòn đến các xóm . Mọi người đều chơi Bầu Cua Cá Cọp nhưng trong trò chơi này , chỉ có Bầu, Cua, Cá, Hươi, Tôm và Gà, không có con Cọp. Như thế tại sao gọi là Bầu Cua Cá Cọp. Con Cọp không còn thấy trên các bàn Bầu Cua Cá Cọp như hiện nay.
Bầu Cua Cá Cọp là trò chơi đầu tiên, bắt nguồn từ bên Trung Quốc, Phúc Kiến, người Tàu gọi là Hoo Hey How. Cá (Hoo), Tôm( Hey) ,Cua ( How). Thật ra trò chơi này cũng tương tự với trò chơi của các thủy thủ người Anh gọi là Crown and Anchor.





Trò chơi nầy ban đầu được các thủy thủ bài ra chơi trên bon tàu trong lúc rỗi rảnh, buồn chán khi ra khơi đánh cá do đó chỉ phổ biến ở các nước Anh, Bỉ, Hòa Lan, và nước Pháp.

Bàn cờ người Tàu nguyên thủy không có con Cọp mà thay vào đó là đồng tiền xu.





Ở nước Thái Lan, bàn bầu cua có hình nguyên con cọp. Đây mới chính là gọi Bầu Cua Cá Cọp.



Có rất nhiều giả thuyết để giải thích tại sao người Việt chúng ta gọi là bầu cua cá cọp:

1. Có người cho rằng vì sự sùng bái Cọp nên sau này trên bàn cờ không dám đụng con Cọp. Có thể ông cha ta ngày xưa khi khai phá vùng đất ở phương Nam có rất nhiều Cọp dữ, nên sùng bái coi cọp như là Ông Cọp hay Ông Ba Mươi.

2. Những hình ảnh thú vật và trái bầu trên bàn cờ bầu cua đều thể hiện những hình ảnh hiền hòa gần gủi với nếp sống của dân quê ở đồng ruộng trong khi đó cọp là loại thú hại người sống trên rừng núi. Con Cọp không thích hợp với những con vật trên bàn cờ.

3. Bàn Bầu cua cá Cọp thật ra là bầu cua cá cọc. Ngày nay nói sai thành bầu cua cá cọp. Trong từ cổ Việt chữ Cộc có nghĩa là nọc, đực, dương, vật nhọn. Những con thú biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời gọi chung là con Cọc hay có tên biến âm của Cọc hay có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt, đực. Cọc mang trọn nghĩa của chữ Nọc, trong chữ nòng nọc. Ở đây, ở cõi đất thế gian, con Hươu đực, Hươu Nọc tức con Hươu có Sừng, loài thú bốn chân đi trên mặt đất là con Hươu Cọc, Con Cọc. Sừng là vật nhọn là một thứ Cọc nhọn, một thứ Nọc nhọn mang dương tính. Nhìn vào bàn Bầu Cua ta thấy con Cọc chính là con Hươu ở góc trên bên trái.



Tóm lại phải nói là Bầu Cua Cá Cọc mới đúng, nói Bầu Cua Cá Cọp là sai.truyền thống dân tộc “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” nên cho mọi người đầu năm đã cùng nhau vui Xuân với các trò chơi của ngày Tết như kêu Lô-tô, lắc bầu cua, vv...


ảnh : LT s/t net


ảnh : LT s/t net


Ông già, bà cả nhớn bé đều xả láng” mua vui. Xa quê hương mà thấy cảnh ngày Xuân trên đất khách cũng vui và tạm an ủi phần nào. Nói đến bầu cua thì thường mọi người hay gọi là bầu cua cá cọp”. Có một ông nào đó đã cắc cớ viết thư về hỏi MC Nguyễn Ngọc Ngạn của CT Thúy Nga “Paris By Night” là tại sao trong 6 vật thể trong bàn “bầu cua không có con cọp trong đó mà tại sao người ta vẫn hay gọi là “bầu cua cá cọp”, lý do tại sao? Ông Ngạn cũng lắc đầu cười trừ và không biết phải giải thích ra sao cho phải phép
Còn các bạn Trung Thu thì sao???

"Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua .
Lắc một cái ra ba con gà mái,
thôi hết tiền đi thua hết tiền ..."

Lê Công Lý




http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06