Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Vui Ca Dao
 Nụ Cười Của Trạng
 Trạng Quỳnh và Trạng Lợn
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

HU1B
Moderator

USA
132 Posts

Posted - 01/23/2006 :  12:33:18  Show Profile  Reply with Quote
TRẠNG QUỲNH, TRẠNG LỢN - hai kiểu cười của người Việt Nam

Nếu con người, như Aristote nói, là một động vật biết cười, thì người Việt mình, có lẽ, người hơn cả. Bởi lẽ người Việt rất hay cười. Cái cười làm bộc lộ một nét nào đó trong tính cách người Việt. Đôi khi là một nét sâu sắc và khá bất ngờ. Có lẽ, khi cười, cái vô thức không bị canh giữ, con người dễ để lộ tướng tinh...

Cùng với các chuyện Tiếu lâm, các câu Đố tục giảng thanh hay Đố thanh giảng tục, các bài ca dao nói ngược, các chú Bờm, Hề, Tễu..., người Việt còn cười dài trong các truyện trạng : Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Trạng Vật, Trạng Cờ, Trạng Ăn. Xuất phát từ những giai thoại về các ông "Trạng nguyên" (có thật), dân gian đã xây dựng nên những ông "trạng dở" (hư cấu) để gửi gắm vào đấy những ước ao, thèm muốn của mình. Tại sao dân chúng lại chỉ mơ đến ngôi Trạng mà không ước đến ngôi Vua - ngôi vị chúa tể của xã hội Việt Nam cổ truyền ? Tưởng đã mơ thì ước luôn một lèo, chuyện mơ ước ấy mà, có mất gì đâu ? Có thể, ngưỡng văn hóa đã làm cho người Việt chừng mực ngay cả trong giấc mơ ? Hoặc cũng có thể, thân phận kép của ông trạng gần gũi hơn với dân chúng, nên họ dễ hóa thân hơn ?

Trong số các truyện trạng, thì Trạng Quỳnh, Trạng Lợn là đứng đầu bảng khẩu vị cười của ng­ười Việt. Không hẳn vì đó là những câu chuyện có cốt, có nhân vật trung tâm xâu chuỗi các biến cố, có tính hoàn chỉnh. Không hẳn vì đó là những giai thoại đặc sắc nhất, thú vị nhất, có tính tư tưởng cao nhất. Có lẽ, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, hơn đâu hết, bằng tiếng cười đã phá tung những xiềng xích để cho những xung năng vô thức bị kìm nén bấy lâu trong mỗi con ngư­ời nổ tung ra, tạo sự hả hê, khoái trá. Và, cũng vì thế, mà tiếng cười Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, bộc lộ những chiều sâu tâm lý của người Việt.

Trạng Quỳnh gồm 48 mẩu chuyện. Mỗi mẩu là một giai thoại trong đời nhân vật nhằm đả kích, châm biếm một ai đó. Có thể là bọn trẻ đồng trang lứa trong làng (Đầu to bằng bồ), kẻ trên (Trời sinh ông Tú Cát), kẻ sang (Miệng người sang), quan thị (Lỡm quan thị), vua (Tiên sư thằng Bảo Thái), chúa (Đá bèo, Đại phong, Món ăn mầm đá), thành hoàng, bà Banh, chúa Liễu... Tóm lại, các nhân vật trên đều thuộc tầng lớp thống trị, cả thế quyền lẫn thần quyền, tức bọn phong kiến "sống" và bọn phong kiến "chết".

Vũ khí tiếng cười mà Quỳnh dùng để đả kích bọn thống trị, trước hết đó là trí thông minh, óc thực tiễn của Quỳnh (Đầu to bằng bồ, Dê đực chửa), nhưng chủ yếu là chơi xỏ (Đá bèo, Ông nọ bà kia, Chúa ngủ ngày, Trạng chết Chúa cũng băng hà), bẫy (Khốn nạn thân gà thiến, Tạ ơn Chúa Liễu), lỡm (Lỡm quan thị, Lại lỡm quan thị, Sứ Tàu mắc lỡm), chửi bới (Thừa giấy vẽ voi, Thay lời giáo thụ). Tóm lại, cách mà Trạng Quỳnh hay dùng nhất để chống lại bọn phong kiến thống trị là chơi xỏ và chửi bới.

Trạng Quỳnh cười, cười bằng sự chơi xỏ và chửi bới, rõ ràng phản ánh tâm lý của người bị trị chống lại kẻ thống trị mình, của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh. Cách chống đối này, rõ ràng không thể hiện rõ thế thượng phong, mà phần nào có chứa đựng cả sự bất lực. Cũng dễ hiểu, dân ta đã sống lâu năm trong chế độ nông nghiệp quân chủ Nho giáo, là thân phận, một thần dân, chịu nhiều tầng áp bức, nên đã hình thành lối ứng xử chống đối trong chịu đựng, chịu đựng mà vẫn chống đối.

*****

Trạng Lợn gồm 19 mẩu chuyện, có tích có truyện, có mở đầu bằng mô-típ kết thai thần kỳ (ông sao sa vào thùng nước tắm của bà mẹ) và có kết thúc bằng cảnh thoát trần một gót thiên tiên. Con đường thành trạng của trạng hoàn toàn là do gặp may. Văn chương thế giới đã có những nhân vật chuyên gặp xúi quẩy, nhưng cũng có những người chuyên gặp may mắn. Trạng Lợn là một người như vậy. Trạng có vận may cũng dễ hiểu vì Trạng, xét cho cùng, không phải là người trần, mà là người xuống trần, nên Trạng luôn được một ông già hoặc một lực lượng siêu nhiên nào đó giúp đỡ bằng những ngẫu nhiên, những tình cờ. Đáng chú ý hơn là cái cách Trạng gặp may, cái cách thành công của Trạng. Trạng vốn dốt lại lười học (Phải chăng chữ Lợn, Trạng Lợn, không giản đơn chỉ nghề đồ tể của bố trạng ?). Điếc không sợ súng, nên nhỡ sa vào những tình huống khó xử, trạng đều nói bừa hoặc nói phét. Nhưng ác thay nhũng nói bừa nói phét đó đều đúng cả. Thật là dốt chữ... thành thần ! Sự đối lập giữa hai cực đó càng làm nổi bật cái may của Trạng.

Đọc Trạng Lợn, người ta thấy đó là một truyện cười vô cùng sảng khoái. Người ta không thấy ghét Trạng Lợn, ghét sự tiến thân bằng những tình cờ may mắn của anh ta, mà chỉ thấy đó là trường hợp thú vị, kỳ lạ vốn cũng là một mặt của đời sống, cái mặt làm cho cuộc sống đỡ tẻ nhạt, trần trụi và dung tục hơn. Đó là giấc mơ, mà qua đó dân được muốn thay thân đổi phận. Đây là chỗ mới người đồng lòng yêu mến Trạng Lợn, bởi ở nơi thầm kín nhất của lòng mình, ai cũng muốn mình có được một vận may như vậy.

Người Việt là một dân tộc nông dân. Thiểu số những người hiện nay tuy không làm ruộng nữa, không sống ở nông thôn nữa nhưng vẫn bảo lưu một căn tính nông dân. Người nông dân Việt vốn là tiểu nông, sống với nền kinh tế tự nhiên. Tự cấp tự túc, sống trong làng xã có tôn ti trật tự, nên không dễ gì thay thân đổi phận, ngoại trừ trong mơ ước. Và trong cái không gian làng xã tiều nông ngưng đọng và bức bối về tinh thần đó, mơ ước cũng rất dễ trở thành huyễn tưởng. Người ta tin vào sự thần kỳ, tin vào những thay đổi bỗng nhiên, bỗng chốc, bất ngờ...

Những di sản tinh thần trên ngày nay không phải đã hết. Nó có thể tồn tại ở dạng nguyên bản hay dạng biến tướng. Xin lấy một thí dụ, tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, ngoài những mặt tích cực, nó cũng phản ảnh nhiều tính chất huyễn tưởng của con người nông dân trong thời đại đô thị hóa, dù là đô thị thuộc địa. Một mặt, đó là phản ứng chống lại mọi sự canh tân của đô thị, mà bước đầu khó tránh khỏi mọi sự lố lăng, mặt khác là tham vọng chinh phục cái thế giới đô thị xa lạ đó bằng những tình cờ may mắn, bằng số đỏ. Còn trong đời sống thường nhật hiện nay, phản ứng đó vẫn thường là những câu chuyện vui, những tiếu lâm hiện đại. Cười. ấm ức được giải tỏa. Đến đây ta càng thấy rõ hơn Trạng Quỳnh và Trạng Lợn tưởng khắc nhau một vực một trời mà hóa ra lại là một thứ nhị vị nhất thể của tâm lý dân tộc.

ĐỖ LAI THUÝ
(theo Tạp chí Tia sáng)
Kính Chào
HU1B

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 03/23/2006 :  21:14:03  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
Trạng Quỳnh
Trích từ Viet.no

ChristineLuu Sưu Tầm

Có lẽ trong chúng ta ai cũng đã từng nghe đến cái tên Cống Quỳnh hoặc Trạng Quỳnh, 1 người tài ba của đất phương Nam. Những câu truyện của ông có thể khiến người ta cười đến chảy nước mắt. Những câu truyện của ông không chỉ đem đến nụ cười cho người đọc, người nghe, mà nó còn phản ảnh những cái bê bối, tồi bại của lũ quan tham, vua chúa kém tài thời ấy.

Sau đây là vài câu truyện tôi xin kể đến tất cả bạn đọc:


1. Thử mèo

Trong khi dân đói khát, nghèo khổ, thì Vua thời ấy lại cưng chìu 1 con mèo ngài đã được Mỹ Hương, 1 nàng cung phi rất được sủng ái tặng. Vì vua rất sợ cái máu ghen có một không hai của hoàng hậu.

Con mèo có bộ lông màu sắc óng ánh, nên được vua đặt tên là Cầu Vòng. Thấy vua ham chơi mèo quá, Quỳnh rình 1 ngày vào chầu bắt "Cầu Vòng" về. Về tới nhà ông xích con mèo lại, và mỗi lần tới bữa cơm ông đem 2 đĩa cơm. 1 đĩa cơm trắng và sơn hào hải vị, còn 1 đĩa cơm trắng và rau cải. Mõi lần con mèo đến gần đĩa cơm sang trọng là bị ông lấy cây mây đánh đòn.

Sau 1 thời gian, Cầu Vòng quên hẳn cuộc sống vương giả, và cũng là lúc Vua phát giác ra Cầu Vòng bị trạng bắt cóc. Vua bắt trạng và Cầu Vòng vào chầu. Vua trách tại sao trạng lại làm chuyện như thế. Trạng nhất định nói mấy ông quan hiềm khích nên vu khống.

- Thưa bệ hạ, để chứng minh con mèo này là của hạ thần xin ngài hãy soạn 2 đĩa cơm, 1 đĩa cơm sang trọng và một đĩa cơm trắng với vài miếng rau.

Thế là 2 đĩa cơm đem ra. Vua cầm đĩa cơm sang trọng gọi Cầu Vòng mấy lần, nhưng con mèo cứ quay mặt sang chỗ khác. Thế là trạng cầm đĩa cơm lên và gọi:

-Ái Hương ơi! Ái Hương!

Nghe tiếng trạng gọi Ái Hương, thế là con mèo sà tới và ăn đĩa cơm của trạng. Vua nghe trạng gọi Ái Hương thì chột dạ, nhưng không dám làm gì vì có hoàng hậu ngồi kế bên. Thế là trạng được ra về với nàng Hương...


2. Quyển sách quý

Trong phủ Chúa đầy dẫy những tên hoạn quan hèn hạ, nịnh hót và tham lam, và những tên này rất ghét Quỳnh và hay dòm ngó nhà Quỳnh.

Một hôm Quỳnh mang quyển sách đóng bìa đẹp, đi qua mặt tên rình trước cửa nhà. Quỳnh giả bộ dấu diếm 1 quyển sách trong người. Tên hoạn quan liền cố gắng mượn coi cho bằng được. Khi mở ra thi toàn thấy giấy trắng, đến gần hết quyển sách mới thấy có mấy chữ mà đọc hoài không hiểu. Quỳnh rủ về nhà mới giải thích.

- Chúa vị thị thần viết, vi cốt tứ địch. Thị thần quị nhi tấu viết, thần phùng chỉ phát. Nghĩa là: Chúa hỏi thần rằng, làm xương cho sáo. Thị thần quỳ mà tâu rằng tôi may ngón tóc.

Tên hoạn quan lẩm nhẩm câu nói của trạng, tỏ vẻ không hiểu. Hắn đực mặt ra, Trạng cẩn thận giải thích:

- Chúa hỏi thần rằng, làm sao cho sướng? Thị thần quỳ ma tâu rằng: tôi móc ngón tay. (Chú ý hoạn quan không có bộ phận sinh khí).

Hắn nghe giải thích xong thì nổi giận bỏ đi. Đợi hắn ra khỏi nhà, trạng tháo chỉ, rút tờ giấy đó ra rồi đốt. Trạng bỏ 1 tờ giấy khác vào và viết vài chữ khác.

Hôm sau Chúa bắt trạng vào chầu và đòi coi quyển sách lạ mà hoạn quan đã về kể. Trạng tâu:

- Khải Chúa, sách của thần ghi chép xằng bậy, không đáng để Chúa phải bận tâm.

Chúa nghe thấy vậy thì tin những lời ton hót của tên hoạn quan kia. Ngài đòi coi cho bằng được. Khi mở ra thì ngài đọc thấy:

- Ngã tư thế sự. Tư viết tả tô chấn tân thịnh nền giai khống xái châu.

Đọc xong Chúa không hiểu gì hết, bèn bắt trạng giải thích. Trạng giải thích đại khái câu nói nói : ta nghĩ về sự thế, cái nền thịnh trị tân tiến là đẹp vô cùng. Chúa nghe xong thì cười, cho là câu nói nghe vui tai đáo để, rồi ban thưởng cho Trạng.

Khi trạng về tới nhà thì tên hoạn quan ghé thăm, nịnh hót:

- Ông Quỳnh đừng có giận tôi, không nhờ tôi thì ông đâu có được Chúa khen và ban thưởng.

- Ông lầm rồi, tôi đời nào lại trách ngài. Câu viết đó là tôi cố ý dành riêng cho Ngài thưởng thức đó.

Tên quan thị ngơ ngác, không hiểu gì hết. Trạng cười nói:

- Để tôi giải thích cho ngài rõ. Ngã tư thế sự là tao nghĩ về cái trò đời. Tư viết là nghĩ rằng. Tả tô chấn là tổ cha hắn. Tân thịnh nền là tên nịnh thần. Giai khống là không giái. Xái châu là xấu chơi. Nguyên câu nghĩa là : "Tổ cha hắn, tên nịnh thần không giái, xấu chơi"! Ngài nghe thủng chưa???

Tên quan thị câm như hến, lủi thủi bỏ đi. Thế là cái mặt xấu chơi đó biến hẳn khỏi nhà trạng.


Đây chỉ là 2 câu truyện ngắn về trạng Quỳnh. Nếu có dịp sẽ đang tải thêm.


Ăn trộm mèo
Lily sưu tầm


Nhà vua có một con mèo quý lắm, xích bằng xích vàng và cho ăn những đồ mỹ vị.

Quỳnh vào chầu, trong thấy, bắt trộm về, cất xích vàng đi mà buộc xích sắt, nhốt một chỗ, đến bữa thì để hai bát cơm, một bát thịt cá, một bát rau nấu đầu tôm. Mèo ta quen ăn miếng ngon chạy đến bát cơm thịt cá chực ăn. Quỳnh cầm sẵn roi, hễ ăn thì đánh. Mèo đói quá, phải ăn bát rau nấu đầu tôm. Như thế, được hơn nửa tháng, dạy đã vào khuôn, mới thả ra.

Vua mất mèo, tiếc quá, cho người đi tìm, thấy nhà Quỳnh có một con giống hệt, bắt Quỳnh đem mèo vào chầu. Vua xem mèo, hỏi:

- Sao nó giống mèo của trẫm thế? Hay khanh thấy mèo của trẫm đẹp bắt đem về, nói cho thật!

- Tâu bệ hạ, bệ hạ nghi cho hạ thần bắt trộm, thật là oan, xin bệ hạ đem ra thử thì biết.

- Thử thế nào? Nói cho trẫm nghe.

- Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ phú quý thì mèo ăn thịt ăn cá, còn hạ thần nghèo túng thì mèo ăn cơm với đầu tôm, rau luộc. Bây giờ để hai bát cơm ấy, xem nó ăn bát nào thì biết ngay.

Vua sai đem ra thử. Con mèo chạy thẳng đến bát cơm rau, ăn sạch.

Quỳnh nói:

- Xin bệ hạ lượng cho, người ta phú quý thì ăn cao lương mỹ vị, bần tiện thì cơm hẩm rau dưa. Mèo cũng vậy, phải theo chủ.

Rồi lạy tạ đem mèo về.


Chửi Cha Thằng Bảo Thái

Quỳnh vốn thích đùa, lại thêm trong bụng không ưa nhà vua là kẻ hay nghe lời gièm nịnh của đàm ô quan trong triều. Một hôm bèn nghĩ cách cho nhà vua một vố.

Sáng sớm hôm ấy, Quỳnh bảo gia nhân ra chợ nói với các nhà hàng thịt rằng có sứ Tàu sang chơi, triều đình chuẩn bị làm tiệc rất to để khoản đãi nên nhà vua sai mình ra chợ dặn các hàng thịt không được bán cho ai nữa. Tất cả thịt ở chợ - heo, bò, gà, chó... cứ việc đem mà sắt vụn ra sẵn, đến trưa sẽ có người ra lấy hết.

Các chủ hàng thịt hí hửng, tưởng là được một mẻ khá, thi nhau thái thịt vụn ra rồi ngồi chờ. Nhưng chờ mãi cho đến trưa cũng chả thấy ai, cho tới khi trời đã xế chiều vẫn chẳng thấy ma nào ra lấy thịt. Có kẻ tức quá bèn tìm đến tận nhà Quỳnh mà hỏi cho ra lẽ. Quỳnh nói với họ:

- Chắc là ai muốn chơi sỏ tôi, làm hại các bác đấy thôi chứ có tiệc tùng gì đâu nào? Ðã thế, các bác cứ việc lôi những ai "Bảo thái" ra mà chửi cho đỡ tức!

Các chủ hàng thịt không biết tên kẻ đã bảo họ thái thịt, đành nén hơi gào lên chửi. Anh nọ bảo chị kia:

- Chửi đi! Kéo cả mồ mả nhà nó kên mà chửi. Cha nó chứ! Cái thằng "Bảo Thái"!


Ðón Sứ Tàu


Triều đình chuẩn bị đón sứ nhà Thanh sang nước ta. Chúa nghe nói tên này là kẻ hống hách, hợm hĩnh, bèn kêu Quỳnh vào, giao cho giữ việc nghênh tiếp.

Quỳnh phụng mạng vua, đồng thời xin triệu thêm bà Ðoàn Thị Ðiểm giả làm người bán hàng nước cho khách qua đường, còn mình giả trang làm anh lái đò đưa sứ bộ qua sông.

Khách Tàu đến, đi ngang quán bà Ðiểm, thấy trong hàng có một cô gái xinh xắn ngồi bán, liền hùa nhau kéo vào uống nước, sẵn có buông lời chọc ghẹo, bỡn cợt. Một tên líu lo đọc bâng quơ:

"Nam bang nhất thốn thổ bất tri nhân canh"
(Một tấc đất nước Nam không biết bao nhiêu người cày, ý cho rằng đàn bà nước Nam lẳng lơ)

Bà Ðiểm đang nhai trầu, nhổ toẹt một bãi, đọc:

"Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất"
(Bọn quan quyền phương Bắc đều từ chỗ đó mà ra cả )

Nghe xong câu ấy, cả bọn ngừng uống nước, tròn mắt, há hốc miệng nhìn bà Ðiểm. Chúng không thể ngờ rằng một bà bán nước bên đường lại có sức học kinh người đến thế !

Khách ra đi, xuống đò của Quỳnh. Khi đò đến giữa sông, một tên trong nhóm sứ Tàu nhột bụng, vãi rắm nghe một tiếng "bủm". Không thấy xấu hổ thì thôi, hắn còn đọc một câu chữa thẹn xấc xược:

Lôi động Nam bang (Sấm động nước Nam)

Quỳnh đang cầm chèo, liền đứng cậy vạch quần đái vòng cầu qua đầu sứ, vừa đái vừa đọc:

Vũ qua Bắc hải (Mưa qua bể Bắc)

Tên sứ Tàu giận điên tiết, xộc lại định đánh Quỳnh, Quỳnh trở cán chèo thủ thế rồi mắng:

"Tiền phát lôi, hậu phát vũ, thiên địa chi lý nại hỉ "
(Sấm động trước, ắt sau sẽ có mưa, luật trời đất là thế )

Cả bọn khách Tàu sửng sốt nhìn nhau, không thốt được một lời vì câu đối đáp bắt bí quá đúng của anh lái đò. Cả nhóm trong bụng vừa tức, vừa sợ, cứ ngậm miệng cho đến nơi.


Thi Vẽ


Sứ Tàu vốn là một tay vẽ rất giỏi. Một hôm, hắn khoe tài với Quỳnh, ra giọng thách thức:

- Ta chỉ nghe ba tiếng trống đánh là vẽ xong một con vật. Người có thể làm như thế không?

Quỳnh cười đáp:

- Thưa, chỉ nghe một tiếng trống mà vẽ xong đến mười con vật như tôi mới tài, chứ phải ba tiếng trống mới vẽ được một con thì sao gọi là tài cho được!

Sứ Tàu nghe nói tức lắm, nghĩ bụng phải cho cái thằng này biết tài mới được, thách Quỳnh thi vẽ với hắn. Quỳnh nhận lời ngay.

Ðến lúc thi, nghe tiếng trống đầu tiên, sứ Tàu liền cắm cúi vẽ lấy vẽ để. Quỳnh thì cứ ung dung ngồi dưới chiếu nhai trầu, xem như người đang ngồi hóng gió chứ không phải thi thố gì cả. Tiếng trống thứ hai nổi lên, sứ Tàu liếc thấy Quỳnh vẫn cứ ngồi đó ngâm nga. Nghe tiếng trống thứ ba, Quỳnh mới đứng lên, tiến tới bàn, nhúng cả mười đầu ngón tay vào nghiên mực rồi trét lên giấy thành mười vệt dài ngoằn nghoèo. Khi đó, sứ Tàu chưa vẽ xong được hình thù con vật nào cả.

Thời gian so tài đã hết, Quỳnh đưa tờ giấy ra, bảo với sứ Tàu:

- Ông thua cuộc rồi đấy nhé ! Tôi đâu có nói ngoa, chỉ nghe một tiếng trống thôi là tôi vẽ xong ngay mười con giun đất đây này.

Sứ Tàu muốn ôm đầu kêu trời, đành thua mẹo của Quỳnh một lần nữa.


Trân trọng
Ca Dao
Go to Top of Page

HU1B
Moderator

USA
132 Posts

Posted - 05/18/2006 :  00:03:05  Show Profile  Reply with Quote
Làm thơ xin ăn




(Truyện Trạng Quỳnh)

Tại một làng thuộc tỉnh nọ có tên địa chủ giầu có nứt vách, lại nổi tiếng gian ác và hay hà hiếp dân lành. Hắn có cô con gái tuy đẹp nhưng cũng nổi tiếng không kém cha về cái thói chua ngoa đanh đá. Cô gái này thường thay cha ra đồ nam đốc thúc kẻ làm thuê.

Một hôm, cô ta đang đứng trên bờ ruộng, tay chống nạnh, đầu có nón quai thao, quan sát các nông dân làm thuê gặt lúa thì có một chàng thiếu niên dáng vẻ nho sinh đi ngang qua. Nho sinh thấy cảnh đó liền dừng lại hỏi thăm một bác nông dân về cô gái kia. Bác nông dân bảo cô ta là con gái của chủ ruộng, ngày nào cũng ra đứng đây để mà đôn đốc việc đồng áng, nói là thế nhưng thật ra ai làm lụng chậm chạp một tí là cô ta ngoác miệng ra chửi chẳng tiếc lời. Có lắm người tuy đói nhưng ráng chịu chứ không làm thuê cho cô ta để khỏi bị nhục.

Nghe kể xong, chàng thiếu niên liền tiến đến gần bờ ruộng nơi cô kia đang đứng. Thiếu niên bảo cô nàng mình là học trò lỡ độ đường, nhịn đói đã hai ba bữa nay, xin cô gia ân bố thí cho ít lúa thổi cơm.

Thấy chàng trai khôi ngô khoẻ mạnh lại đi xin ăn, cô gái nguýt dài và bảo:

- Này, cô bảo cho biết, của đâu mà lấy không của người ta hả, nếu đúng học trò thì ứng khẩu xuất thi cho cô nghe lọt lỗ tai đã, bằng không thì cứ thẳng đường mà xéo!

Chàng thiếu niên kia nhận lời ngay và xin cô gái ra chủ đề cho mình làm thơ. Cô kia bảo:

- Ðã ăn xin còn vẽ chuyện, cứ làm thơ xin ăn là hợp nhất chứ còn đề điếc gì nữa!

Chàng trai suy nghĩ trong thoáng chốc rồi đọc to:

Tuyên Quang, Hoằng Hoá cũng thờ vua.
Nắng cực cho nên phải mất mùa
Lại đứng đầu bờ xin xỏ chị.
Chị lỡ lòng nào chị chẳng cho.

Nghe xong bốn câu thơ ấy, cô gái đỏ gần cả mặt, ngượng quá không còn biết nói năng gì nữa cả, vội vội vàng vàng lấy lúa đưa cho chàng trai kia. Chàng kia chẳng thèm cám ơn, đi thẳng một mạch trong tiếng cười khúc khích của các người làm ruộng thuê.

Về sau, người ta biết ra chàng trai ấy chính là Trạng Quỳnh. Còn phần cô gái thì sao? Cô ta mất hẳn cái thói đanh đá chanh chua, mà cũng từ hôm ấy, không thấy cô ra đồng đứng chống nạnh như trước nữa.




--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: AlexanderTheGreat (phố rùm Đặc Trưng)
Go to Top of Page

HU1B
Moderator

USA
132 Posts

Posted - 05/18/2006 :  00:08:09  Show Profile  Reply with Quote

Đơn xin chôn trâu



(Truyện Trạng Quỳnh)

Một cô gái ở thôn Hoằng Trì có con trâu chết đã ba ngày, trâu trương lên thối um mà bọn chức dịch trong làng vẫn cứ làm khó dễ, chưa cho chôn. Cô đợi mãi không được, bèn mang đơn lên trình quan huyện.

Trên đường đi, đến một chỗ lầy lội, cô gặp một anh chàng ra dáng học trò. Anh kia hỏi thăm biết chuyện, mượn cô lá đơn xem lỡ tay đánh rơi xuống bùn. Cô gái bắt đền. Anh học trò liền đem giấy bút ra, thảo ngay tờ đơn khác cho cô. Ðơn rằng:

Ta là gái goá kẻ trị
Nếu trâu không chết việc chi lụy đời?
Lội đồng váy hếch đơn rơi,
Ta phải cậy người mần lại đơn nị
Quan tri ơi hỡi quan tri!
Xác trâu chết để ba ngày thối hoăng
Xét đơn phải xử công bằng
Không thì bút... cho thằng mần đơn.

Anh kia viết xong, cô gái thật thà cầm đơn vào trình quan. Xem xét chữ nghĩa và lời lẽ, viên tri huyện nghi hoặc, hỏi cô gái ai là người cô đã nhờ viết đơn. Cô gái kể rõ mọi chuyện chuyện đã xẩy ra trên đường. Tri huyện lặng người, biết ngay kẻ đó là Trạng Quỳnh chứ không ai khác. Tuy tức vì bị chửi xỏ, quan cũng đành chấp thuận cho cô gái kia được về chôn trâu mà không phải nộp phạt.




--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: AlexanderTheGreat (phố rùm Đặc Trung




--------------------------------------------------------------------------------
Nguồn: AlexanderTheGreat (phố rùm Đặc Trưng)
Go to Top of Page

Phượng Vỹ
New Member

USA
63 Posts

Posted - 05/18/2006 :  00:16:20  Show Profile  Reply with Quote

Những bài thi bất hủ




(Truyện Trạng Quỳnh)

Nghe trạng Quỳnh nói năng giọng châm biếm, nhà Chúa nghĩ rằng con người này bức trí vì tài năng chưa được thi thố hết mức. Tương truyền Chúa mở mấy khoa thi, ngầm sai thị thần ép Quỳnh đi thi, nếu Quỳnh thực lòng thờ Chúa, Chúa sẽ chấm Trạng nguyên.

Kỳ thi hội thứ nhất - Năm ấy không có điều gì vui mừng, Chúa lại mở ân khoa (!) Chẳng qua vì nhà chúa ăn tiêu xa xỉ, thâm lạm quá nhiều vào quốc khố, lại gặp liền vụ mất mùa, không còn cách gì bóp nặn của dân, đành bày ra trò mua bán khoa danh để kiếm chác. Trường thi hỗn độn: người vô thi lẫn người đi theo làm giáp bài hộ, quan trường thông lưng với sĩ tử; có kẻ mối lái mà cả, ăn giá trước lấy đỗ cao, đỗ thấp; có kẻ làm sẵn câu chữ ngang nhiên đi rao bán bài thi như đi rao bán thịt, cá... giữa chợ. Chẳng cần Chúa ép, kỳ thi hội lần này Quỳnh đã có chủ đích ứng thi cốt nhập vào dòng người bát nháo kia coi thử họ xoay xở, lừa đảo, làm ăn ra sao. Vào thi Quỳnh chỉ viết qua loa chiếu lệ xong, ngồi ngoạch bút vẽ nguệch ngoạc. Mấy tên giám thị được phân định coi khu vực, cứ ngấp nghé rình mò. Quỳnh giả tảng không biết, hứng bút đề một bài thơ tứ tuyệt cố ý cho bọn chúng trông rõ:

Văn chương phú lục đã xong rồi
Thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi
Nhắn nhủ mấy lời cho chúng biết
Chúng còn rình tớ chúng ăn bòị

Lén đọc thấy, mấy tên này tức tốc đến trình quan sơ khảo. Quan sơ khảo lại đi tìm quan phúc khảo, cùng đến... Trong khi đó, Quỳnh ngồi rỗi buồn tay vẽ thêm mấy chú voi con nữa. Các quan trường kéo đến đông đủ cả bầy, Quỳnh thản nhiên đề vào dưới bức biếm họa (1):

Voi mẹ, voi con, voi lúc nhúc
Chú sơ, chú phúc (2) rúc mà coi!

Cả bọn tẽn tò, bấm nhau lảng. Cố nhiên, kỳ thi này Quỳnh là người bị đánh hỏng đầu tiên.

Kỳ thi hội thứ hai - Chúa vẫn ngầm sai người ép Quỳnh đi thi, để nếu còn ngang bướng Chúa sẽ thẳng tay trị tội.

Vào trường thi, chép xong đầu bài, Quỳnh không thèm động bút. Ông chống tay vào cằm, đảo mắt nhìn bao quát. Lũ quan trường tưởng ông bí văn, đến nói nhỏ vào tai:

- Ông nghĩ được đến đâu cứ viết đến đấy, đã có Chúa và chúng tôi phù trợ. Chỗ nào khó thì làm trống!

Quỳnh gật đầu mỉm cười. Nhân đấy, ông nảy ra một ý ngộ nghĩnh. Bọn này xui ta "làm trống" nghĩa là chỗ nào chưa nghĩ ra, kho, chưa viết được, thì để giấy trắng - để suông, để trống! Ta sẽ tương kế, tựu kế, dựa theo lời chúng, tả ngay chiếc trống, thế mà lại hay"... Ông lúi húi viết vào bài:

... Ô hô! Da trâu, tang mít, tứ ký thành bưng bít chi công; đám hội, nhà chay thượng ký đổ thì thùng chỉ hiệụ..

Không rõ lúc đọc bài, quan trường có hiểu rằng Quỳnh đã lấy cớ nghễnh ngãng, nghe nhầm "làm trống" để tả ra "cái trống" nhằm phỉ báng sự bất lực cùng đầu óc trống rỗng của bọn chúng từ vua, chúa đến quan trường hay không. Nghe đâu bọn quan trường lại bị nhà chúa mắng: "Ăn không nên đọi, nói không nên lời! Để Quỳnh làm lạc đề, tội ở các ngươi!"

Kỳ thi hội thứ ba - Nhân năm mưa thuận gió hòa, được mùa toàn cõi, nhà chúa thay lời vua Lê, tự tay ra đề thi hướng vào chuyện đó.

Mở đầu bài chính văn Quỳnh viết ngay hai câu "phá" (3):

Quân tắc cổ, thần tắc cổ, đái hàm quan
Ngu Thuấn chi công
Thượng ung tai, hạ ung tai, ỉ đầu lại
Đường Nghiêu chi trị

Giải nghĩa theo chữ hán, đại ý là:

Vua hành đạo theo phép tắc xưa, bề tôi hành đạo theo phép tắc xưa kính cẩn đều nhìn nhận công ơn vua Thuấn. Người trên hòa vui. Người dưới hòa vui trước hết nhờ cậy nền thịnh trị vua Nghiêu.

Mới xem lướt, Chúa Trịnh đã định xếp bài Quỳnh cho đỗ. Quan đề điệu (4) đứng bên cạnh liền tâu:

- Khải Chúa xin người hãy xét lại kỹ hơn. Thần e trong những câu chữ ấy có hàm ý không thuận mà lại còn bất kính nữa. Kẻ hạ thần xin xướng theo nghĩa đồng âm trực tiếp để nhà Chúa thính lãm (5).

Quả nhiên nghe đọc lại Chúa tái mặt, sửng sốt vì những lời phỉ báng táo tợn:

- Nhà vua tắc cổ (câm), bề tôi cũng tắc cổ, đái vào hàm bọn quan dám bảo rằng (chúng tao) đang được sống dưới thời vua Thuấn.

- Đứa trên lòi tai (ung tai: thối tai), đứa dưới cũng lòi tai, ỉa vào đầu lũ nha lại, dám bảo rằng (chúng tao) đang mở mặt giữa đời vua Nghiêu.

Trên giấy trắng mực đen, không ai bắt bẻ Quỳnh được chữ gì, mặc dù bài của ông bị loại.

Cả ba kỳ thi hội, Quỳnh đều trượt. Nhưng Quỳnh thêm nổi tiếng vì những "bài thi bất hủ" ấy.


----------------------------------------------------------
1) Tranh châm biếm.
2) Chỉ quan sơ khảo và phúc khảo.
3) "Phá" hay phá đề là câu mở đầu bài luận văn.
4) Quan chủ khảo.
5) Lắng nghe.
Go to Top of Page

Dế Mèn
New Member

91 Posts

Posted - 05/18/2006 :  00:23:55  Show Profile  Reply with Quote

Trạng ''nguyên'' hay trạng ''dở''




(Truyện Trạng Lợn)

Khi Chung Nhi lên ba thì có hai người đỗ đại khoa vinh quy bái tổ về làng. Cả làng đổ ra đón rước. Chung Nhi được bố cho đi đón cùng. Thấy ông tân khoa ngồi trong kiệu đi trước, mũ mão cân đai chĩnh chện, Chung Nhi chỉ vào kiệu hỏi:

- Bố ơi, ông này là ông gì hả bố?

- Đấy là quan Trạng. Người bố trả lời.

- Còn ông kia? Chung Nhi chỉ vào người ngồi chiếc kiệu đi sau.

- À, quan Bảng đấy con ạ.

- Ông nào to hơn hả bố?

- Quan Trạng.

- Thế to hơn quan Trạng là ai?

- Quan Trạng là nhất, chẳng ai to hơn.

- Vậy thì con sẽ làm quan Trạng bố nhé.

Người bố xoa đầu Chung Nhi, cười, nhân đó nói đùa:

- Quan Trạng của bố cũng vinh quy như ông kia chứ?

Chung Nhi gật đầu:

- Nhất định như thế!

Giữa lúc đó có ông hàng xóm đứng sau, nghe hết câu chuyện của hai cha con, xen vào hỏi đùa:

- Đỗ Trạng "nguyên" hay Trạng "dở"?

Chung Nhi quay lại, nhận ra bác hàng xóm quen thuộc, bèn nói:

- Tưởng người lạ hóa người quen!

Ông hàng xóm vừa kinh ngạc thấy thằng bé mới lên ba mà nói năng gẫy gọn thành một vế đối rất chỉnh với lời nói của ông. Ông bảo bố Chung Nhi nên cho em đi học. Từ đó, ai cũng gọi Chung Nhi là "Trạng".
Go to Top of Page

Dế Mèn
New Member

91 Posts

Posted - 05/18/2006 :  00:33:04  Show Profile  Reply with Quote
Chống giặc ngoài

(Truyện Trạng Lợn)

Trạng cùng nàng Phấn Khanh ở quê nhà vài tháng, rồi từ tạ mẹ và anh chị lai kinh. Khi qua trang trại Bùi tướng công, hai vợ chồng vào thăm. Chưa được một ngày thì nhận được chiếu chỉ vua sai đi dẹp giặc.

Trạng biết ngay cơ sự, thưa với nhạc phụ:

- Việc này do âm mưu của Thái sư họ Dương, bởi vì trước đây lão ép gả con gái cho tiểu tế không được, nay thấy sánh duyên cùng lệnh ái, nên để tâm thù. Nhân có giặc đương thả voi trận quấy rối miền biên cương vùng Thanh - Nghệ, lão muốn đẩy tiểu tế đến nơi nguy hiểm. Nhưng xin nhạc phụ chớ lo!

Hôm sau, Trạng cùng vợ lai kinh. Trước lúc lên đường, vua ban cho Trạng cờ biển và dặn rằng:

- Khanh đi kinh lược vùng Thanh - Nghệ, trẫm trao cho chức "Tiết chế quân vụ". Trong hàng quân, kẻ nào trái lệnh, khanh được phép "tiền trảm hậu tấu".

Trạng cho mời Trạng Cờ, Trạng Vật, Trạng Ăn đến bàn kế chống giặc. Xong đâu đấy, phong Trạng Vật làm tướng tiên phong. Trạng Cờ đốc thúc thủy bộ. Trạng Ăn coi việc vận chuyển và binh lương. Nàng Phấn Khanh cũng cương quyết lĩnh ấn, đeo gươm theo chồng đi dẹp giặc.

Tới Thanh - Nghệ, Trạng phân quân sĩ thành cơ đội, rồi đóng trại quanh núi. Thám tử về báo: "Giặc đóng tại Bố Chính, Quy Hóa trở vào, đông như kiến cỏ, thả voi phá hoại mùa màng, quấy nhiễu nhân dân, mà địa thế lại rất hiểm trở".

Trạng Vật nói:

- Làm trai có chí lập công lớn thì dẫu nguy hiểm bao nhiêu cũng không quản. Ta quyết đem thừng xỏ mũi chúng lôi về!

Trạng mừng lắm, giao cho Trạng Vật ba nghìn quân đi tiên phong. Trận đầu, khi Trạng Vật vừa cho cắm trại, thì thình lình quân giặc kéo đến vây đông vô kể. Chúng dùng tên bắn như mưa và thả voi xông bừa vào. Trạng Vật cùng quân lính chống đỡ tới chiều vẫn không phá được vòng vây. May sao có Trạng Cờ và Trạng Ăn thúc quân tới kịp, cùng hiệp lực mới thu được quân về...

Trạng sai bốn đạo quân mở nhiều trận đánh lớn làm cho giặc thua to, từ đấy cứ lẩn lút trong rừng sâu. Nhưng hễ quân Trạng xông vào là chúng bắn tên ra như mưa.

Giặc thủ thế, ta khiêu chiến, chúng cũng không ra. Đến đêm, Trạng ngầm sai quân lính để nhựa thông vào những đống củi khô chất sẵn và cho quân mai phục. Quả nhiên đầu canh năm, giặc kéo ra cướp phá. Trạng Vật lập tức nổi hiệu phóng lửa tứ phía, rồi bắn tên vào như mưa. Voi ngựa xô nhau sa hố gần hết, còn binh tướng giặc bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết.

Sau đó, Trạng dẫn quân vào trận tiền, bắt sống được tướng giặc, đóng cũi giải về kinh đô.

Nhà vua nghe tin mừng lắm, ngự giá ra khỏi hoàng thành đón rước về triều, khao thưởng quân sĩ, ban phong chức tước. Khi đem tướng giặc ra tra hỏi, mới hay là chính viên thái sư đã ngầm tư thông với giặc, xui chúng đem quân xâm lược đất đai vùng Thanh - Nghệ, rồi tâu vua sai Trạng đi dẹp giặc, định nhờ tay giặc trừ khử Trạng, để báo thù việc Trạng không lấy con gái lão.

Vua đùng đùng nổi giận, ra lệnh đem tướng giặc ra chém trước cửa thành, rồi lập tức thiết triều, nghị xét Dương thái sư. Nhà vua giáng chỉ, bắt thái sư bỏ ngục, cách hết quan tước, tịch ký gia sản bao gồm rất nhiều ngà voi, sừng tê và vàng bạc châu báu của hai động đem tiến, không biết bao nhiêu mà kể.
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 09/19/2006 :  23:08:31  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
Chân Trạng Nguyên



(Truyện Trạng Lợn)

Thứ hậu lập tức sai quan quân đi đón hoàng đế về, rồi lập đàn để hoàng đế lên ngôi vua, lấy hiệu là Thánh Tông. Vua Thánh Tông phong thưởng cho hết thảy công thần, duy có Chung Nhi, vua phong cho gì cũng không nhận, một mực tấu trình:

- Bề dưới hèn hạ, không dám nhận những chức ấy.

Vua phán rằng:

- Thần nhờ phúc tổ tông mới được như thế này, cũng thực bởi có ngươi cố sức cứu giúp, phò tá, không thì còn đâu đến giờ mà vua vua, tôi tôi. Có lẽ lâu vua an hưởng phú quý mà tôi lại không được cùng hưởng lộc trời.

Nói mãi, Chung Nhi đành trình tấu:

- Muôn tâu Thánh thượng, quan sang chức trọng xin để phong cho những kẻ có công lớn, còn kẻ hạ thần chỉ xin Thánh thượng ban cho hai chữ Trạng Nguyên để hạ thần vinh quy là đủ phỉ chí cả một đời.

Vua Thánh Tông vui lòng giáng chỉ phong Chung Nhi là Trạng Nguyên, được ra vào hầu chực dưới bệ rồng.

Có một ông quan văn quỳ tâu:

- Muôn tâu Thánh thượng, danh vị Trạng Nguyên là dành cho các bậc văn tài, còn kẻ có công thì thưởng vàng bạc, vóc nhiễu, hay phong quan tước là cùng, lẽ nào lại phong Trạng Nguyên cho một kẻ không hiểu việc văn từ.

Vua Thánh Tông bác đi.

Giữa lúc đó, theo lệnh vua, chùa Thầy đã được tu sửa xong. Vua ngự giá đến chùa làm lễ tạ Thần Phật.

Lúc treo chuông lên gác thì chuông nặng quá, không sao treo nổi. Chung Nhi liền cho Trạng Vật và Trạng Ăn vào giúp một tay mới treo được. Vua thấy vậy bèn đọc một câu: "Thiên lý trọng kim chung" và bảo các quan đối lại. Ai nấy đứng đực như phỗng, không nghĩ ra.

Chung Nhi nhớ tới câu của Phấn Khanh khi trước, liền đọc: "Bát đao phân mễ phấn". Vua khen nức nở và bảo các quan:

- Ứng đối như mây bay nước chảy, tài ấy thật đáng Trạng Nguyên!

Sau khi xa giá hồi cung, vua xuống chiếu phong cho Chung Nhi ba chữ "Chân Trạng nguyên" và ban cờ biển cho Trạng.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

lovecadao
Starting Member

Vietnam
17 Posts

Posted - 11/29/2009 :  03:35:49  Show Profile  Reply with Quote
Sẵn đây xin được hỏi huynh cadao, huynh HU1B, huynh tieuboingoan cùng tất cả các anh chị trên diễn đàn là nhân vật Trạng Quỳnh được mô phỏng theo một người có thật ở ngoài đời hay đơn thuần chỉ là một nhân vật được tưởng tượng thôi ạ?
Xin được cảm ơn!
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 11/30/2009 :  09:01:02  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
quote:
Originally posted by lovecadao

Sẵn đây xin được hỏi huynh cadao, huynh HU1B, huynh tieuboingoan cùng tất cả các anh chị trên diễn đàn là nhân vật Trạng Quỳnh được mô phỏng theo một người có thật ở ngoài đời hay đơn thuần chỉ là một nhân vật được tưởng tượng thôi ạ?
Xin được cảm ơn!




Trạng Quỳnh hay Nguyễn Quỳnh là chuyện có thật. Xem bài dưới đây:

Nguyễn Quỳnh (1677–1748[1]) là một danh sĩ thời Lê–Trịnh (vua Lê Hiển Tông), từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ Trạng nguyên.


Nhà thờ Nguyễn Quỳnh ở Hoằng Lộc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Ông còn có tên Thưởng, hiệu Ôn Như, thụy Điệp Hiên, quê tại làng Bột Thượng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.[2] Thân sinh ông là ông Nguyễn Bổng và bà Nguyễn Thị Hương.
Thuở nhỏ, ông học với ông nội và cha (vốn là giám sinh ở Quốc Tử Giám). Năm 1696, Quỳnh thi đỗ Giải nguyên, nhưng đi thi Hội nhiều lần bị hỏng.
Về sau, triều đình bổ nhậm ông làm giáo thụ các huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn Tây), tiếp đến làm huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long. Năm 1718, đỗ khoa Sỹ vọng được bổ làm tri phủ Thái Bình, rồi về làm Viên ngoại lang ở Bộ Lễ; sau bị giáng xuống chức Tu soạn ở Viện Hàn lâm.
Tuy không đỗ cao, Quỳnh vẫn nổi tiếng là người học hành xuất sắc. Đương thời đã có câu: "Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nham, thiên hạ vô tam" (nghĩa là thiên hạ không có người thứ ba giỏi như hai ông).
Sách "Nam Thiên lịch đại tư lược sử" đã nhận xét về ông: "... Nguyễn Quỳnh văn chương nổi tiếng ở đời, nói năng kinh người, thạo quốc âm, giỏi hài hước...".
Tác phẩm còn lại của Nguyễn Quỳnh, gồm một số bài ký, văn tế mẹ, văn khóc em (vốn tài hoa, nhưng chết yều ở tuổi 14) và hai bài phú chép trong tập: "Lịch triều danh phú". Lịch triều danh phú là tuyển tập của các danh sĩ thời bấy giờ, tất cả đều đỗ đại khoa, chỉ có hai người đỗ Hương cống là Nguyễn Quỳnh và Đặng Trần Côn.
Tương truyền ông là bạn thơ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Do tính cách trào phúng nên dân gian thường đồng hóa ông vào nhân vật Trạng Quỳnh - một ông Trạng dân gian nổi tiếng với tính trào lộng.
Để tôn vinh ông, nhà nước Việt Nam đã cho xây dựng nhà lưu niệm Trạng Quỳnh tại quê hương ông.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page

viettoac
Starting Member

Vietnam
1 Posts

Posted - 08/30/2010 :  06:49:38  Show Profile  Reply with Quote
Tip98.com=>tin cực sốc, nội gián từ macao
Chúng tôi là một nhóm những chuyên gia giàu kinh nghiệm.Công việc của chúng tôi là nghiên cứu và đánh giá những TIP nội gián được chuyển cho chúng tôi từ MACAO,Thai Lan ,Singapore...va cung cấp cho khách hàng những TIP có cơ hội thắng kèo cao nhất
Chúng tôi hiểu được tầm quan trọng của công việc chúng tôi đang làm cùng như những thiệt hại sẽ gây ra cho khách hàng nếu như có một số sai sót nhỏ của chúng tôi vì vậy "tinh thần và trách nhiệm" luôn đượcc chúng tôi đặt lên hàng đầu tât cả vì lợi ích của khách hàng cũng chính là lợi ích của chúng tôi.
Nói ít làm nhiều là phương châm của chúng tôi.Không cần để ý đến chúng tôi nói gì chỉ cần xem chúng tôi làm được gì cho bạn.
Hãy đến với chúng tôi và kiểm nghiệm những gì chúng tôi nói!.Đến với chúng tôi để nhận TIP miễn phí http://tip98.com

viettoac Nguyen
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06