Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Quê Ta
 Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông
 Sài Gòn
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 02/02/2006 :  20:30:12  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Phải biết rằng đây là một đề tài được các nhà nghiên cứu, học giả, Tây lẫn ta, tốn rất nhiều thì giờ và công sức. Cho đến nay thì có khoảng 5 giả thuyết về xuất xứ của chữ Sài Gòn, trong đó có 3 thuộc loại quan trọng hơn. Xin ghi lại 3 thuyết quan trọng hơn dưới đây:

1. Sài Gòn từ Thầy Ngòn (Đề Ngạn), Xi- Coón (Tây Cống):

Đây là thuyết được đưa ra bởi 2 tay thực dân Pháp là Aubaret và Francis Garnier (yes, người bị Cờ Đen phục kích). Theo Aubaret, Histoire et description de la Basse-Cochinchine và Garnier, Cholen, thì người Tàu ở miền Nam, sau khi bị Tây Sơn tàn sát, đã lập nên thành phố Chợ Lớn vào năm 1778 và đặt tên cho thành phố đó là Tai-ngon hay Ti-ngạn Sau đó, người Việt bắt chước gọi theo và phát âm thành Sài Gòn.
Thuyết này được hai học giả là Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Quả thật, trên phương diện ngữ âm, thì Thầy Ngòn, Xi Coón, rất giống Sài Gòn! Tuy nhiên, theo lịch sử thì không phải. Vì sao? Vì lịch sử chứng minh rằng SG có trước, rồi người Tàu mới đọc theo và đọc trại ra thành Thầy Ngòn, Xi Coọn.
Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống Suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ "Luỹ Sài Gòn" (theo Hán Nho viết là "Sài Côn"). Đây là lần đầu tiên chữ Sài Gòn xuất hiện trong tài liệu VN. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán "Côn" được dùng thế cho "Gòn". Nếu đọc theo Nôm là "Gòn", còn không biết đó là Nôm mà đọc theo chữ Hán thì là "Côn".
Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh SG! Thì làm gì phải đợi đến 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cổng.
Ngoài ra, về nghĩa lý thì cả hai chữ này hầu như vô nghĩa theo tiếng Hán. Dịch sát thì "Đề Ngạn" là "nắm lấy (đề) bờ sông cao dốc (ngạn)". Theo Nguyễ Đình Đầu trong "Địa Chí Văn Hoá ", p. 219, vol 1, thì "thành phố trên bến dưới thuyền nào mà không có 'bờ sông cao dốc, mà không là 'đề ngạn" .

2. Sài Gòn từ Củi Gòn, Cây Gòn, Prey Kor.
Thuyết này được Petrus Trương Vĩnh Ký đưa ra dựa theo sự "nghe nói" như sau:
"Sài là mượn tiếng viết theo chữ Hán có nghĩa là củi gỗ; Gòn là tiếng Nam chỉ bông gòn. Người ta nói rằng tên đó phát sinh bởi sự kiện nhiều cây bông gòn do người Cao Miên đã trồng chung quanh đồn đất xưa của họ, mà dấu vết nay vẫn còn ở chùa Cây Mai và các vùng lân cận" P. Trương Vĩnh Ký, Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs, trong Excursions et Reconnaissance X. Saigon, Imprimerie Coloniale 1885.
Nên chú ý rất kỹ chỗ "người ta nói", nguyên văn "dit on" về thuyết này. Không biết tại sao mà sau này Louis Malleret và Vương Hồng Sển lại quả quyết thuyết này là "của" TVK, mặc dù ngay sau đoạn này, TVK lại viết tiếp "Theo ý tôi, hình như tên đó là của người Cao Miên đặt cho xứ này, rồi sau đem làm tên gọi thành phố. Tôi chưa tìm ra được nguồn gốc đích thực của tên đó".
Tương tự, có nhiều thuyết phụ theo nói rằng SG từ "Cây Gòn" (Kai Gon) hay "Rừng Gòn" (Prey Kor) mà ra. Nói chung, các thuyết này đều dựa trên một đặc điểm chính: cây bông gòn.
Nhưng thuyết này phần lớn đã bị bác bỏ vì lý do đơn giản là không ai tìm được dấu tích của một thứ "rừng gòn" ở vùng SG, hay sự đắc dụng của củi gòn ở miền Nam, kể cả TVK. Ngay vào thời của TVK (1885) tức khoảng hơn 100 năm sau mà đã không còn dấu tích rõ ràng của thứ rừng này, mặc dù lúc đó không có phát triển gì lặm Ngay cả khi Louis Malleret khảo nghiệm lại, hình như cũng không có dấu vết gì của một rừng gòn ở SG.
Thêm nữa là cây gòn thời đó dùng làm hàng rào chứ không làm củi. Và theo Lê Trung Hoa trong "Địa Danh TPHCM" thì "sài" chỉ xuất hiện trong các từ ghép Hán Việt, như "Sài Tân" chứ chưa bao giờ được dùng như 1 từ đơn, nên không thể nói củi đước là sài đước, củi gòn là sài gòn được
Vậy, thuyết SG là "củi gòn" đã bị bác bỏ bởi thực tế địa lý và ngữ học.

3. Sài Gòn từ Prei Nokor
Đây là thuyết mà thoạt đầu khó có thể chấp nhận nhứt (về ngữ âm), nhưng hiện nay được coi như là "most likely".
Chính Petrus Trương Vĩnh Ký là người đưa ra thuyết này. Trong Tiểu Giáo Trình Địa Lý Nam Kỳ, ông đã công bố 1 danh sách đối chiếu 187 địa danh Việt Miên ở Nam Kỳ, như Cần Giờ là Kanco, Gò Vấp là Kompăp, Cần Giuộc là Kantuọc và Sài Gòn là Prei Nokor.
Cả 2 Nguyễn Đình Đầu và Lê Trung Hoa đều đồng ý với thuyết này, dựa theo lịch sử và ngữ âm.
Trước nhất, theo sử Cao Miên được dịch lại bởi Louis Malleret, vào năm 1623, một sứ thần của chúa Nguyễn đem quốc thư tới vua CM và ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor (SG) và Kras Krabei của CM để đặt phòng thu thuế.
Năm 1747, theo danh mục các họ đạo trong Launay, Histoire de la Mission Cochinchine, có ghi Rai Gon Thong (Sài Gòn Thượng) và Rai Gon Hạ (Sài Gòn Hạ).
Đó là theo sử sách, còn theo tiếng nói thì Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là "thị trấn ở trong rừng", Prei hay Brai là rừng, Nokor hay Nagara là thị trấn. Đây là vùng mà chúa Nguyễn đã mượn làm nơi thu thuế như đã nói ở trên.
Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành RAI, thành "SÀI", Nokor bị bỏ "no" thành "kor", và từ "kor" thành "GÒN".
Còn sở dĩ có Saigon viết dính nhau là do các giáo sĩ Tây Phhương đã bỏ mất dấu và gắn liền nhau khi in. Sau khi chiếm nước ta, để khỏi đọc "sai" ra "sê" thao giọng Pháp nên Saigon được viết với hai dấu chấm trên chữ i.

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 05/17/2006 :  09:13:59  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Sài Gòn từ nguyên thủy đến 1895

--- không rõ tác giả ---

Lịch sử nguồn gốc Sài Gòn còn thuộc phạm vi giả định. Chưa có chứng cớ rõ ràng về các cuộc định cư đầu tiên. Thời kỳ trước thế kỷ XVII chỉ được biết thông qua một số di chỉ khai quật và văn bản chữ Hán hay quốc ngữ, thực hiện nhiều thế kỷ sau đó.

Phù nam, Chân lạp và các tiểu vương quốc "người thượng"

Ai đã có mặt nơi đây trước người Việt? Theo nhà khảo cổ Pháp Louis Malleret, trên địa bàn Sài gòn đã có người ở từ thời tiền sử. Nhưng lại thiếu các dữ liệu chứng minh nguồn gốc và quá trình diễn biến các cuộc định cư đầu tiên này.

Lịch sử Sài gòn có lẽ bắt đầu cùng với Công nguyên. Vào thời điểm này vương quốc Phù Nam (chịu ảnh hưởng cuả Ấn Độ) đã rất phát triển và bao trùm khắp Nam bộ. Cho đến thế kỷ thứ VI, Phù Nam là một đế quốc trải dài từ bán đảo Mã lai đến thung lũng sông Mê Nam (hay Chao Phraya của Thái Lan), rồi trung lưu sông Mê Kông và sau cùng là miền cực Nam Việt nam. Trung tâm Phù Nam nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, khoảng giữa Phnom Penh và Châu Đốc, kinh đô là Vyâdhapura tức vị trí của tỉnh Prei Veng bây giờ. Sài gòn nằm trong khu vực trái độn giưã Phù Nam và đất thuộc vương quốc Chàm sau này. Tuy vậy trước đó tại đây đã có mặt các sắc tộc Malayo-polynésien. Và rải rác hơn là các bộ tộc Stieng, Chê ma, Koho, Mnong...

Kể từ thế kỷ thứ VII, vương quốc Khmer tiền-Angkor tức Chenla sát nhập các đất thuộc Phù nam cũ. Louis Malleret đã tìm thấy dấu vết cuả một "thành phố" có từ thời tiền-Angkor hay trước nưã. Đó chính là Prei Nokor, "Kinh đô giữa rừng xanh", mà Malleret cho là nằm trong tứ giác giới hạn bởi Gò Vấp, Thị Nghè ở phía Đông, Bà Điểm ở phía Bắc, Phú Lâm ở phía Tây và rạch Bến Nghé ở phía Nam.

Hai mươi năm sau cuộc khám phá này, Malleret cũng như một số nhà khảo cổ khác vẫn chưa dám khẳng định gì cả. Bởi lẽ dù có các chứng tích về sự có mặt của người Khmer tại địa điểm này, người ta vẫn chưa có thể giải thích và chứng minh nguồn gốc cũng như quá trình phát triển của việc định cư người Khmer.

Thực ra ở đây luôn bị bỏ lỏng và các sắc tộc giữ nguyên tính độc lập của họ. Có rất ít di chỉ liên quan đến việc định cư của người Khmer. Theo các nhà sử học (Nguyễn Đình Đầu chẳng hạn) điều đó chứng tỏ phía đông của Chenla kể cả Saigon hiện nay gần như không có cư dân và nhất là không hề được khai phá. Trước đó Lê Quý Đôn cũng đã từng viết : "cả một vùng rừng rậm trải dài hàng nghìn dặm tiếp giáp với cửa Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại"

Định cư tự phát của di dân người Việt

Có nhiều tài liệu Việt Nam nói về giai đoạn "lịch sử cận đại" này của Sài Gòn. Ngay từ đầu thế kỷ XVII tất cả các vùng có thể khai thác nông nghiệp đều đã thu hút di dân người Việt: châu thổ sông Đồng Nai, sông Mê Kông và cho tới sông Mê Nam của Thái Lan (đã có các làng người Việt ở Tonlé Sap và thậm chí ở Ayuthia, kinh đô Xiêm xưa). Làn sóng di cư này càng mạnh kể từ khi vương quốc Chàm bị xóa sổ. Bằng tàu bè người Việt đến định cư đầu tiên tại các vùng ven biển Bà Rịa, Đồng Nai trong đó có cả vùng đất Sài gòn. Đồng thời các dân tộc bản địa như Stieng, Ma, Koho và Mnong rút về hướng Bắc nơi họ đã có mặt. Riêng các làng Khmer thì rút về Tây ninh chung quanh núi Bà Đen vốn quen thuộc với họ. Nguyên nhân khiến người Việt di cư về phương Nam một cách tự phát này là các khó khăn kinh tế, các ràng buộc khắt khe của đời sống và tổ chức xã hội và cũng là tình hình các cuộc chiến kéo dài trên lãnh thổ Việt Nam lúc đó. Xét trên nhiều phương diện đây toàn là những người "có óc phiêu lưu", có bản lĩnh (do đó mới dám dời quê cha đất tổ).

Tại chỗ, di dân người Việt luôn giữ được phong tục tập quán của mình nhưng cũng hội nhập dễ dàng với dân bản xứ. Định cư người Việt có hai dạng. Thứ nhất là họ sống hòa nhập vào các trung tâm, phố xá của người Khmer thông qua các hoạt động thủ công nghiệp, thương mại và vận tải hàng hóa. Đặc biệt một số được triều đình Khmer trọng dụng trong công việc đóng tàu. Dạng định cư thứ hai của người Việt là các thôn ấp đặc thù trên các vùng chính họ đã khai hoang để sinh sống bằng nghề nông. Nguyễn Đình Đầu cho rằng ngay tại thời điểm này người Việt đã biến Sài gòn thành một trung tâm thương mại và thủ công nghiệp. Hoạt động chợ búa và thương điếm Sài gòn đã thực sự sánh vai ngang hàng với các kinh đô Phnom Penh và Ayuthia. Ngay từ thế kỷ XVII này Sài gòn đã trở thành nơi thu hút các tàu buôn. Ghe thuyền Việt, Trung cũng như tàu Mã Lai, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hòa Lan cạnh tranh dữ dội nhằm độc quyền buôn bán các tài nguyên vùng.

Từ bảo hộ đến sát nhập (1623 - 1698)

Từng bước một từ 1623 đến cuối thế kỷ chủ quyền Việt Nam được khẳng định trên nền đất từng thuộc ảnh hưởng Khmer này. Đây có thể nói là một sự hợp thức hóa quá trình định cư tự phát của người Việt đã diễn ra từ rất lâu như vừa nêu ở trên. Triều đình Cao Miên vì sự đe dọa liên tục của Xiêm luôn chủ động giao hảo tốt với nhà Nguyễn (kể từ nay đã kiểm soát một lãnh thổ rộng lớn tiếp giáp với Cao miên). Năm 1618 chẳng hạn, quốc vương Prey Chey Chessda kết hôn cùng một công chúa nhà Nguyễn. Liền sau đó Chúa Nguyễn được phép thiết lập trên đất Sài Gòn tức Prei Nokor này một trạm thu thuế nhập thị và thương chính.

Sự kiện này chứng minh tầm quan trọng về vị trí thương mại và chiến lược của Sài gòn trong các toan tính của triều đình Huế. Và theo các sử gia Bouc_ và Moura, nếu đây không là một cuộc chinh phục được ngụy trang thì chí ít trạm thu thuế cũng là một đài quan sát các luồng xuất nhập hàng hóa và do đó nắm bắt được sự trù phú về tài nguyên của tòan vùng. Lại có thêm nhiều trạm thuế khác rải rác vùng lục tỉnh tương lai mục đích không ngòai việc kiểm soát vùng đất mới này.
Theo các tài liệu Việt cũng như Khmer đã có hai lần nhà Nguyễn động quân. Lần đầu vào năm 1658, đánh chiếm các thành quách Sài gòn và Loveck rồi Phnom Penh. Lần thứ hai, năm 1674, mượn cớ giảng hòa xích mích trong hoàng gia Cao Miên nhà Nguyễn buộc nhà vua Neac Thu, đóng tại Oudong, chấp nhận một Phó vương đóng tại Sài gòn là Neac Non. Cả hai Chánh, Phó vương đều phải triều cống nhà Nguyễn. Bốn năm sau chủ quyền của họ ngày càng giảm nhất là từ khi đồn Tân Mỹ được lập nên, đánh dấu một bước tiến mới của việc thiết lập chủ quyền người Việt.

Trong cùng một toan tính, Chúa Nguyễn đã chủ động cho phép một nhóm khá đông di dân người Hoa đến lập nghiệp tại những vùng đất trên danh nghĩa vẫn còn dưới quyền cai trị của triều đình Cao Miên.

Định cư người Hoa (1680)

Năm 1680 có khoảng 3000 người Hoa trên 50 thuyền cập bến Đà Nẵng. Các binh lính và gia đình của họ xin được quy phục nhà Nguyễn, lấy cớ là trung thành với nhà Minh nay họ không thể sống dưới nhà Thanh Mãn châu mới lên... Trước vấn đề khó xử này chúa Nguyễn đã nghĩ ra là nên sử dụng nhóm lâu la vào công cuộc Nam tiến bằng cách cho họ vào lập nghiệp tại một số vùng đồng bằng Nam bộ. Như vậy nhà Nguyễn vừa khéo léo đuổi được đám tàn quân khó kiểm soát đồng thời sử dụng họ chiếm giữ giùm cả một vùng lãnh thổ không thuộc chủ quyền của mình.

Một cánh người Hoa đến định cư ở Đồng nai trên địa điểm gần Biên hòa ngày nay. Một cánh khác về Tiền Giang, Mỹ Tho và họ nhanh chóng làm chủ hoạt động giao thông vận tải suốt vùng đồng bằng Cửu Long (kể cả "hoạt động" hải tặc !). Mỗi ngày tàu bè ngoại quốc ra vào càng nhiều; di dân người Việt đổ về ngày càng đông. Nếu người Việt tập trung trong các ngành nông và thủ công nghiệp thì các ngành vận tải đường thủy và kinh doanh thóc gạo nằm toàn bộ trong tay người Hoa.

Vai trò của người Hoa trong sự củng cố ảnh hưởng của triều Nguyễn trên vùng đất mới là điều không thể chối cãi song cũng có lúc họ tỏ ra khó trị. Đặc biệt năm 1688, nhà Nguyễn vừa phải cho quân diệt một nhóm người Hoa tạo phản vừa phải thuyết phục nhóm người Hoa trung thành tham gia vào cuộc chiến với nước Xiêm.

Về phương diện kinh tế và chính trị nhóm người Miên không có chỗ đứng đáng kể. Các trục trặc trong việc truyền ngôi của vương quốc Khmer đã từ từ dẫn đến hậu quả là Sài Gòn và kế đến là đồng bằng Cửu Long vĩnh viễn về tay Việt Nam: năm 1697 nhà vua ở Oudong băng hà, Nặc ÔngYêm là phó vương đóng tại Sài gòn lên thay và chúa Nguyễn chụp lấy cơ hội bổ nhậm Nguyễn Hữu Cảnh vào chức phó vương bỏ trống này. Ngay sau đó Phủ Gia Định được thiết lập và chia ra thành nhiều đơn vị hành chính đứng đầu là các quan văn và võ.

Vào thời kỳ này Sài gòn tuy rằng đã được coi là thủ phủ Gia Định nhưng vẫn chưa khẳng định được vị trí quan trọng của mình.

nguồn: NhatMinh sưu tầm

Ch? th?y ta du?c nn khn
Tnh em hi?u nghi?m hon hu?n thu?c tin
Go to Top of Page

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 05/17/2006 :  09:15:22  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Sài Gòn dưới triều Nguyễn


--- không rõ tác giả ---


Sài Gòn thực sự trở thành một trung tâm chính trị, chiến lược và kinh tế trong khoảng từ ngày thành lập phủ Gia Định (1698) đến thời điểm chiến tranh với nhà Tây Sơn. Trong cùng thời gian chủ quyền Việt nam dần dần được thiết lập một cách vĩnh viễn trên hầu như khắp phía Nam Tất nhiên đôi khi nhà Nguyễn cũng gặp kháng cự, nhưng lần nào cũng dành phần thắng và có thể nói mỗi ngày chủ quyền nhà Nguyễn một mạnh hơn và Gia Định ngày càng vững vàng. Cuộc kháng cự Khmer cầm đầu bởi một người Lào năm 1731 là cơ hội để nhà Nguyễn ý thức được sự cần thiết phải có một cơ quan quân sự đầu não thường trực và một hệ thống phòng thủ mang tính chiến lược. Đương nhiên Sài gòn được chọn và dinh Điều khiển, tức một đại đồn binh, ra đời. Năm 1771-1772, Xiêm la chiếm Hà tiên và tiến về Gia Định. Nguyễn Cừu Đàm sau khi chận đứng giặc Xiêm đã cho đắp lũy Bán Bích dài 8 cây số cùng với một số công sự rải rác hai bên để bảo vệ lâu dài phía Tây và phía Bắc Sài gòn. Lũy này kết hợp với các rạch Bến Nghé và Thị Nghè khoanh vùng Sài gòn "nội thành" có diện tích khoảng 50 Km2

Xứ Sài gòn nay trở thành một thủ phủ chiến lược thực sự và nhà Nguyễn chủ trương tập trung các cuộc di dân người Việt vào đây. Luồng sóng di dân tăng mạnh suốt thế kỷ thứ XVIII trong đó có cả di dân cưỡng bức). Nhà nước cũng có chính sách cấp đất cho các binh lính giải ngũ tại chỗ, riêng người Hoa hưởng đủ điều kiện để trở thành thần dân Việt nam. Nói về người Hoa, ngoài các điểm định cư đã có (Biên hòa và Mỹ Tho) nay lại hình thành một điểm mới sát cạnh Sài gòn (vào thời điểm giữa năm 1679 và 1731). Lúc đầu chỉ là một xã người Hoa nhỏ (xã Minh Hương) sau đó phát triển mạnh với các nhóm người Hoa khác (đến từ Biên Hoà là chính) lánh nạn chiến tranh và sự đàn áp của quân Tây Sơn đổ về. Xã Minh Hương từ đó trở thành Chợ Sài gòn. Tên Chợ lớn chỉ mới có từ đầu thế kỷ XIX (một cách chắc chắn là vào năm 1838, tên Chợ lớn được ghi lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định - do Taberd thực hiện).

Để củng cố vùng đất mới nhà Nguyễn cố gắng khuyến khích hoạt động kinh tế: quy định mềm dẻo về cấp đất, miễn giảm thuế cho những thành phần tích cực nhất trong việc khai hoang. Từ đó xuất hiện nhiều đồn điền quy mô lớn khai thác kiểu tư bản nhắm tới mục tiêu xuất khẩu (số còn lại tất nhiên chỉ mang tính chất sản xuất gia đình). Buôn bán dù sao chủ yếu là thóc gạo và đây cũng chính là động cơ phát triển kinh tế của toàn khu vực.

Như vậy việc mở rộng khai thác vùng đồng bằng Cửu long đưa đến kết qủa là tự động Sài gòn trở thành vừa là nơi kinh doanh và vừa là thị trường tiêu thụ chính. Là trung tâm thương mại, Sài gòn có vô số chợ thu hút thương khách từ mọi nơi kể cả ngọai quốc. Di dân đến ngày càng đông để thỏa mãn các nhu cầu của một trung tâm lớn: thợ thuyền mọi ngành nghề, phu lao động chân tay...

Theo Nguyễn Đình Đầu, chính các thiên hướng kinh tế, thương mại đã xác định tính chất "đô thị" của tổng thể Sài gòn - Chợ lớn:

"Kể từ 1772, Sài gòn là một thành phố đúng nghĩa từ nguyên của thành và phố. Riêng việc buôn bán tập trung thóc gạo và các nông sản khác đã thu hút tàu bè tứ xứ và các phố xá và chợ ngày càng nhiều và đông đúc [...] Dân đông thì lại càng cần có một chính quyền dân sự và quân sự mạnh. Địa bàn Sài gòn giới hạn bởi ba con sông và bao gồm chợ búa phố xá cùng các cơ sở hành chính cũng như quân sự, tự nó là một tổng thể có gắn bó chặt chẽ (về phương diện địa lý, kinh tế, xã hội và phòng vệ). Tổng thể này kể từ nay còn tác động trực tiếp tới các vùng lân cận như Phú Nhuận, Gò Vấp, Bà Chiểu, Cầu Sơn, Thị Nghè, Thủ Thiêm, Xóm Chiếu, Lò Gốm..." Quá trình hình thành này đã cho ra đời một đời sống, một xã hội thành thị với những nét văn hóa hoàn toàn khác hẳn với khu vực nông thôn. Một bên là là dân thành thị hay kẻ chợ Sài Gòn, một bên là dân nông thôn vùng đồng bằng Cửu long. Thành phần dân thành thị gồm viên chức, binh lính, thương nhân, bốc vác, thợ thuyền, gia nhân và cũng có một số trồng trọt vườn tược, thóc lúa tại các làng nội thành... Đa số tất nhiên là người Việt nhưng nhóm thiểu số người Hoa lại rất quan trọng. Còn lại là một số ít người Khmer, Chàm, các sắc tộc người miền núi, khách vãng lai nước ngoài trong đó có các nhà truyền giáo Âu châu.

Xã hội truyền thống Việt nam nay lại mang nét mới: tính chất kẻ chợ bao hàm những tập tục, ngôn từ, cá tính và là những sản phẩm của nhiều nguồn ảnh hưởng phức tạp. Nếu các nét văn hóa đặc thù của chất Sài gòn (con người cũng như xã hội) chưa xác định hẳn ở giai đoạn này thì người ta có thể nhìn nhận nơi những con người đã đóng góp vào sự hình thành của thành phố, lòng dũng cảm, tính tự lập và lòng hiếu khách và bao dung đối với người mới đến trong đó kể cả người nước ngoài. Chính họ đã góp phần tạo dựng nền tảng cho một văn hóa thành thị đặc thù Việt nam."

Ch? th?y ta du?c nn khn
Tnh em hi?u nghi?m hon hu?n thu?c tin
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 09/19/2009 :  02:34:26  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Đôi dòng giới thiệu

Sài gòn (Nay là Thành phố Hồ Chí Minh) là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của miền Nam Việt Nam. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, Sài gòn hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi người Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam, được mệnh danh Hòn ngọc Viễn Đông hay Paris Phương Đông. Năm 1954, Sài Gòn trở thành thủ đô của Việt Nam Cộng hòa và thành phố hoa lệ này trở thành một trong những đô thị quan trọng của vùng Đông Nam Á. Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, lãnh thổ Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành "Thành phố Hồ Chí Minh", theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.123.340 người (chiếm 8,30% dân số Việt Nam)[1], mật độ trung bình 3.401 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc gia. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70 % lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường xá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất.


www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 09/20/2009 :  00:53:17  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
Cám ơn TBN đã thường xuyên làm cho Phố rùm càng ngày càng phong phú
Ca Dao

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06