Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Ngôn Ngữ
 Đại Cương
 Rừng hỏi ngã
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

Linh Phuong
Moderator

USA
125 Posts

Posted - 08/07/2007 :  08:28:42  Show Profile  Reply with Quote
Rừng hỏi ngã


Hỏi ngã khó nhớ đến mức độ nào chưa có ai khảo sát tường tận. Một số cho là rất dễ cứ theo giọng nói mà viết, sách hướng dẫn cách viết hỏi ngã thì cho là chỉ cần theo đúng mẹo là xong. Thực sự không phải là thế, hỏi ngã rất khó không ai ngờ được.
Trước khi đi sâu vào vấn đề tưởng cũng nên nhắc lại một vài định nghĩa cần thiết.
Qui tắc hài thanh: làm cho câu nói không đơn điệu, lên xuống hài hòa.
- Không sắc hỏi: âm cao phải đi với thanh hỏi thấp như leo lẻo, mắc mỏ.
- Huyền nặng ngã: âm thấp phải đi với âm cao như đằng đẵng, nghĩ ngợi.
-Từ đa âm tiết chiếm khoảng 5% tiếng Việt, là từ có từ hai âm tiết trở lên trong đó ít nhất một âm tiết không có nghĩa hay có nghĩa vu vơ không đóng góp gì vào từ chính.
Từ đa âm tiết thực thụ là từ có mọi thành phần không nghĩa như ba ba, tẽn tò, vò vẽ. Từ láy có một thành phần không nghĩa nên cũng là từ đa âm tiết như đẹp đẻ, rõ ràng (láy), nước nôi (đệm), đen thui. Biên giới giữa từ láy và từ đa âm tiết thực thụ nhiều khi không rõ ràng. Hợm hĩnh, hậu hĩnh là từ láy trong khi hóm hỉnh, hóm hỉm là từ đa âm tiết thực thụ. Xin đừng lầm lẫn từ đa âm tiết với từ ghép như hậu đãi - tập hợp của vài ba từ đơn âm.
-Nghịch thanh còn gọi là ngoại lệ, bất qui tắc, không hài thanh hay theo qui tắc lộn ngược
Không sắc ngã: lơ đãng, trơ trẽn, đăng đẵng (còn được viết đăng đẳng), cũ rích, mắc cỡ.
Huyền nặng hỏi: sừng sỏ, thèo lẻo, lèo lẻo (leo lẻo), bở rẹt, bở rệt, bở rệu, chèo bẻo, lẻo lự (so với lưỡng lự, lắc lưởng), dở ẹt, thổn thện.
Vì phải đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể để nói có sách mách có chứng nên quí vị nào không có thì giờ thì đọc lướt nhanh thôi.
Các vấn đề bất thường của hỏi ngã
Vì có quá nhiều điều bất thường n_ cả người viết bài cũng không ngờ trước được, nên phải thêm vào các tiểu tựa để phân loại các vấn đề cho rõ ràng hơn.
1. Dùng sai qui tắc hài thanh
Đa số, kể cả các sách chỉ dẫn hỏi ngã, đều cho rằng qui tắc hài thanh áp dụng được cho tiếng Việt, kể cả từ kép và từ Hán Việt. Xin dẫn chứng bằng một đoạn sau đây từ một cuốn sách khá nổi tiếng dạy cách viết hỏi ngã cho đúng
“Cũng có những trường hợp ngoại lệ như
1. Dấu ngã: đối đãi (từ Hán Việt), sư sãi (từ Hán Việt), vung vãi (từ ghép), hung hãn (từ Hán Việt), than vãn, ve vãn, nhão nhoét (so sánh: nhão nhẹt), minh mẫn (từ Hán Việt), khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), riêng rẽ (ghép), ễng ương, ngoan ngoãn, nông nỗi (từ ghép nông và nổi, có thể viết nông nổi), rảnh rỗi (từ ghép, rảnh và rỗi rãi), ủ rũ (từ ghép ủ nên rũ xuống). . .
2. Dấu hỏi: sàng sảy (từ ghép), lẳng lặng, mình mẩy (từ ghép của mình và mẩy, dậy mẩy), vẻn vẹn, bền bỉ, nài nỉ, viển vông, chò hỏ (ghi chú:có hai cách viết chò hõ hay chò hỏ, có thể là từ miền Nam), nhỏ nhặt (từ ghép), nhỏ nhẹ (từ ghép), sừng sỏ (từ ghép, sừng và đầu sỏ), học hỏi (từ ghép), luồn lỏi, sành sỏi (từ ghép, sành đời và đá sỏi), vỏn vẹn, mềm mỏng (từ ghép), bồi bổ (HV), chồm hổm, niềm nở, hồ hởi (HV). . . (Hoàng Phê, 4)”
Phần trong ngoặc là phần thêm vào để phân loại và giải thích tại sao các từ này không phải là ngoại lệ như tác giả đã nhận định, mà là từ HV hay từ kép, nằm ngoài vòng kiềm tỏa của hài thanh.
“Hài thanh chỉ dùng cho từ đa âm tiết, gồm cả láy và đệm.
Không áp dụng cho từ ghép tiếng Nôm, từ Hán Việt và từ phát xuất từ miền Nam hay Trung, và được phân loại là từ ngoài hài thanh”
Người viết sách hướng dẫn hỏi ngã còn sai thì bảo sao người miền khác không viết trật hỏi ngã.
Ngoài hài thanh: Đó là từ không-đa âm tiết không bị kềm chế bởi hài thanh, gồm có từ đơn âm, từ kép, từ ghép, từ HV, từ Việt hóa, từ phiên âm, gồm luôn cả từ đa âm tiết một dấu như lỏng lẻo, lõng bõng và đa số từ miền Nam và Trung.
Nên phân biệt nghịch thanh và ngoài hài thanh, đây là hai trường hợp khác nhau. Các từ láy như mỏng te, mỏng lét, mỏng manh, mỏng tanh viết với dấu hỏi vì phải theo qui tắc hài thanh còn mỏng dờn, mỏng mọng tuy cũng là từ láy nhưng là từø nghịch thanh. Trong khi đó mềm mỏng, mỏng dính, mỏng teo viết với dấu hỏi vì chúng không phải là từ nghịch thanh mà là từ kép, nằm ngoài vòng kiềm tỏa của hài thanh. Tuy nhiên nếu đi sâu hơn ta lại thấy mỏng dờn (da mỏng thấy ruột xanh dờn), mỏng mọng (mọng nước) có nguồn gốc là từ kép nên có thể coi là từ ngoài hài thanh. Phân biệt cái nào láy cái nào kép xem ra không phải là dễ.
Kinh nghiệm cho thấy mỗi từ hài thanh đều đi kèm một vài từ nghịch thanh, ít khi 100% hài thanh nghĩa là giống như Window luôn luôn có lỗ hổng.
Từ “dở” phân thành hai loại: theo Hài Thanh như dở dang, dở hoắc và không HT như dở ẹc, dở ẹt, dở khẹt, dở khẹc, dở òm, vàng võ, ủ dột, ủ ê, ủ rũ.



Đồ thị Venn biểu diễn tiếng Việt một cách tượng trưng nên không theo đúng tỉ lệ, có những đặc điểm sau đây:
-Những từ không có trong tự điển nằm phía ngoài vùng ghi là tự điển như đớ đẫn (có đờ đẫn), đỏ đẻ (từ miền Nam),
-Từ có dấu hỏi hay ngã được ghi vắn tắt Hỏi Ngã.
-Qui tắc hài thanh chỉ áp dụng cho từ đa âm tiết, không có hiệu lực cho từ không-đa âm gồm có từ đơn âm, từ kép, từ Hán Việt, từ Việt hóa, từ miền Trung và Nam.
-Nằm ngoài vùng hài thanh gồm có hai loại: nghịch thanh như mắc cỡ và từ không-đa âm như nhỏ nhẹ, minh mẫn.
-Có nhiều từ không có trong tự điển như bự chảng, càm ràm.
Tại sao từ đa âm tiết có thể hài thanh còn từ kép thì không?
Từ kép kết hợp hai từ có nghĩa nên không thể thay đổi hỏi ngã một cách tự do được, trong khi đó từ đa âm tiết có ít nhất một thành phần không nghĩa nên có thể thay đổi thanh mà không thay đổi nghĩa. Thí dụ từ “bả, bã” có thể kết hợp thành từ kép bả mía, bả chuột, bã đậu, bã thuốc mà không bắt buộc phải hài thanh, trong khi đó buồn bã là từ láy nên bã phải hài thanh với buồn. Bươn bả, bươn chải, vò vẽ là từ lái nên hài thanh. Nhưng phân biệt được từ láy với từ kép đôi khi rất khó như bở rệt, bở rẹt là từ láy còn bở rệu là từ kép.
Tiếng Hán Việt đa số là từ kép không láy nên không áp dụng hài thanh trừ những từ Nôm hóa hoàn toàn như thơ thẩn, thẩn thơ, thơ mộng. Từ đơn nếu có láy thì dấu của từ đơn thường được xác định bởi láy như cãi cọ.
Cùng một từ nhưng viết khác. Các phần từ 2 đến 7 sau đây liên quan đến các từ có cùng nghĩa nhưng viết khác.
2. Đổi thứ tự là đổi dấu: nhẳng lẳng, lẵng nhẵng (cũng có thể viết lẳng nhẳng)
3.Viết khác vì tưởng là khác nghĩa: Vì thấy một loại vịt có cổ dài ngổng lên cao nên người ta mới đặt là con ngổng cổ rồi từ từ rút gọn lại thành con ngổng, sau cùng lên tông viết sai thành con ngỗng tuy là đúng qui tắc chữ Quốc Ngữ. Chẳng những thế ngổng cổ, cao ngổng, lổng ngổng còn có thể viết ngỏng cổ, cao ngỏng, lỏng ngỏng.
Cùng có nghĩa là lỏng (loãng, rời ra, không kiểm soát, tự do) nhưng có khi viết hỏi (lỏng lẻo, lỏng chỏng, lỏng le, lỏng xịch, lỏng nhỏng), có khi viết ngã (lõng bõng, lõng thõng, đi chơi lõng, lạc lõng).
Từ loại này nhiều lắm: Sóng soải viết khác xoải cánh mặc dầu có cùng nghĩa; “vẫy” tuy cùng một nghĩa nhưng viết lộn xộn không biết đường đâu mà rờ như vẫy đuôi, vẫy vùng viết khác với vẩy nước, vẩy mực, vung vẩy; lỗ chỗ nhưng loang lổ; không suôn sẻ và không suông cùng một nghĩa lại viết khác thì chỉ có trời mới biết tại sao.
Thí dụ cho thấy chẳng những hỏi ngã viết không theo qui tắc mà cả âm tiết cũng viết tùy hứng, làm cho người miền khác không thể nào nhớ nỗi.
4. Cùng một nghĩa nhưng Nam Bắc viết khác: nhảy cửng và nhẩy cẫng; tồng ngổng, chồng vổng, chồng ngổng, chổng ngỗng.
5. Cùng nghĩa nhưng viết khác khi kết hợp với một từ khác. Vì quá chú trọng đến âm điệu nên nhiều cùng một từ nhưng có khi lên tông thành ngã, có lúc xuống tông thành hỏi cho thuận miệng bất chấp cả nghĩa. Thí dụ “ngả” cùng có nghĩa là nghiêng, không thẳng đứng lại viết lộn xộn “Anh ta khi đang ngả nón chào thì ngã khuỵu tại ngã ba có chặn ngả đường hay ngã ba sông”. khác
Qui tắc Hài thanh lại đem áp dụng cả vào từ kép, từ ghép, động từ và túc từ, động từ và trạng từ giống như trong tiếng BK, thanh sắc có thể thay đổi theo từ đứng kề bên, theo tâm trạng người nói. Xin xem bài kế tiếp “Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt”
6. Quá chú trọng đến hài thanh nên loạn xà ngầu.
Bãi biển, bãi cát viết với dấu ngã nhưng bốc bải lại dùng dấu hỏi theo QTHT. Trường hợp này nhiều lắm không tài nào kể ra hết được: trướng rủ, treo cờ rủ nhưng rũ mành và cờ rũ; cù rủ nhưng cú rũ; ngã ạch nhưng ngả ngớn; lỗ chó, lỗ hở nhưng lang lổ và loang lổ tuy rằng có cùng nghĩa.
7. Đổi một cách tùy hứng. Viển vông sao lại dùng dấu hỏi trong khi viễn là tiếng HV có nghĩa là xa vời. Không phải chỉ có dấu mà cả âm tiết cũng viết một cách bất thường: hẳn hoi, hẳn hòi viết khác “về nhà hẵng”. Hẳn hay hẵng đều có nghĩa là already nhưng lại viết khác!
Thanh sắc viết tùy hứng thì nhiều lắm, càng tra cứu tự điển thì càng lòi ra nhiều vấn đề: ngã ạch và ngã chúi viết khác ngả đầu và ngả ngớn; nghiêng ngả nhưng ngã chúi, dấu ngã nhưng ngả mũ chào; nổi lửa cho đã lữa (cũng là lửa); lững lờ lửng lơ (VNI tự điển); dỡ hổng, dỡ lên nhưng dở bổng. Từ trổi cũng viết lung tung: tự điển ghi là trổi lên nhưng trỗi dậy. Ngõ ngách nhưng cửa ngỏ, bỏ ngỏ; tối sẩm, sẩm tối nhưng sẫm tối, sầm sẫm, sâm sẫm.
Chưa hết: chỉa (chôm), chỉa cá nhưng chĩa dùi, chĩa tay; hếch mỏ nhưng trớt mõ; niểng cổ, niểng mình nhưng cà niễng, niềng niễng; lãng trí nhưng lảng quên, (lãng quên, hai cách viết), lang lảng, lảng ồ, lơ lảng, lãng nhách, lãng xẹt. Cổ lỗ sĩ tại sao không viết là cổ lổ sỉ ?
Viết kiểu này thì chỉ có computer mới “nhớ nổi, đoán nổi” còn người thì “chịu không nổi, ngán nỗi, đến nỗi” phải đầu hàng.
Từ đa âm tiết, láy ( tiểu mục từ 8 đến 21)
Người viết lúng túng không biết nên theo loại nào: Có hay không có lái, đa âm tiết hay từ kép, tiếng Nôm hay tiếng HV, tiếng lóng, tiếng miền Nam hay Trung. Thí dụ thải trong thừa thải là từ đơn âm, từ láy hay tiếng HV? Nếu là láy thì phải là thừa thãi, còn nếu là từ HV thì phải viết thừa thải (thừa quá nên phải thải ra). Các bạn đoán coi cách nào viết đúng chữ QN? Xin trả lời là thừa thãi, thật là quái lạ.
8. Đa âm tiết cùng nghĩa nhưng viết khác nếu cặp với từ khác: thỗn thện viết khác thổn thển tuy là cùng một loại. Viết kiểu này làm sao tụi Tây nó học viết tiếng Việt cho được? N_ cả tự điển cũng chỏi nhau: đi lửng chững lững chững (Lạc Việt tự điển) nhưng lững đững lơ đửng (VNI tự điển),
9. Khó phân biệt từ ghép với từ đa âm tiết: Có rất nhiều trường hợp không thể nhận định được một cách dễ dàng ủ rũ (ghép), sàng sảy (sàng gạo, sảy gạo), vỡ toang (từ ghép) và vỡ vạc (từ láy).
10. Khó phân biệt được từ láy với từ kép nên không biết viết như thế nào cho đúng.
Thí dụ ta viết sa ngã nếu là từ kép và viết sa ngả nếu là láy.
11. Không rõ nghĩa nên viết sai nguyên tắc
Nỗi hay nổi là một trong những từ rất khó nhớ vì có nhiều nghĩa, đôi khi nghĩa lờ mờ, cùng nghĩa nhưng viết khác, vài từ không có trong từ điển... nên chỉ còn có nước đoán mò. Thí dụ nhớ nổi, nỗi nhớ, nổi bật là hỏi hay ngã?
Đoán nổi, chịu nổi, kham nổi lại viết khác đến nỗi, khổ nỗi và làm cho tình hình càng rối ren hơn. Nông nỗi sao lại viết khác nổi chìm, nổi phêu. Nông nỗi là từ kép, gồm hai từ nông (cạn) và nổi (lên) hợp lại nên đáng lý phải viết nông nổi.
Làm sao viết cho đúng các từ đan bằng bả, bã giả, trắng giã, bã xõa, lỏa xỏa, lõa xõa nếu không biết ý nghĩa hay nguồn gốc?
12. Từ đơn có láy thì viết theo lái nào? Một từ có thể có nhiều láy, viết theo láy nào là cả một vấn đề. Nếu láy với đờ thì phải viết đờ đẫn, đưỡn đờ nhưng nếu láy với đớ thì dùng dấu hỏi như đớ đẩn (từ miền Nam, không thấy có trong tự điển). Tương tự hẳn hoi và hẳn hòi (đúng HT phải là hẵn hòi), ủ dột và ủ ê (không có ũ dấu ngã); năn nỉ và nài nỉ; ngả ngớn, ngả ngốn nhưng ngã ngũ.
13. Từ đơn không láy hay có láy nhưng cùng dấu : Không có qui tắc nào để viết cho đúng phưỡn (ra), cuỗm, chổng chảnh, chổng chểnh, phải học thuộc lòng vì không còn cách nào khác.
14. Từ láy không biết phải viết theo từ đơn nào: “Lỏi” viết với dấu hỏi hay ngã? Vì có thể lái với cả len (len lõi) và luồn (luồn lõi) nên người viết sẽ trở nên lúng túng. Bằng chứng là có hai cách viết lõi cây và lỏi cây; lõi tì và lỏi tì.
Xin ghi thêm: năn nỉ và nài nỉ; thèo lẻo, chèo lẻo, lèo lẻo và leo lẻo, lẻo lự; chằm bẳm và chăm bẳm, chăm bẩm.
15. Dùng cả hai cách. Có hai cách viết vì một trong các lý do dưới đây
Chữ Hán:Vì không rõ nghĩa nên viết hai cách như hổ trướng và hỗ trướng.
Nhiều vùng miền Bắc phát âm khác nhau nên viết khác như lẳng nhẳng và lẵng nhẵng, rơi tõm và rơi tỏm, tỏm tẻm và tõm tẻm, dở cơm và dỡ cơm, xẩm tối, sẩm tối và tối sẫm, sâm sẩm và xâm xẫm, sẩm sẩm và sẫm sẫm, mệt lủi, trụi lủi, lùi lủi, lui lủi, lủi thủi trong khi đó lại viết lầm lũi, lùi lũi. Tương tự ỏn ẹo, õng ẹo, õng lưng, ỏng ẹo, ỏng eo, ong ỏng, đằng đẵng và đằng đẳng, nỗi bật và nỗi bật. Cái khó là không biết khi nào thì được quyền viết hai cách.
16. Từ miền Nam dấu hỏi bị đổi sang dấu ngã cho đúng với phát âm miền Bắc như xởi lởi hay sởi lởi được đổi lại dấu ngã xỡi lỡi, mắc cỡ (có thể viết mắc cở), mãng cầu (hay mảng cầu), cà niễng, nhỏng nhẻo và nhõng nhẽo, cù lũ, lẻo lự, chò hõ hay chò hỏ.
17. Từ láy cùng một dấu hỏi hay ngã, thì viết theo dấu nào? Từ loại này không áp dụng được qui tắc hài thanh nên phải cố mà nhớ. Thí dụ: rõ rẽ, tủm tỉm, đỏ đẻ, võ vẽ, đỏng đảnh, lõng đõng, bẩn thỉu, lõng bõng, lỏng lẻo, xiểng liểng (xà xiểng, nghịch thanh), đủng đỉnh, đỏng đảnh, mỏng mảnh.
18. Phải đi lòng vòng: Muốn biết phài viết bỡ ngỡ hay bở ngở thì phải tìm từ láy của bở hay ngỡ. Ta có ngỡ ngàng nên bỡ ngỡ viết với dấu ngã. Thế còn bở lở thì sao? Từ này chắc là từ miền Nam vì không có trong tự điển. Và tại sao bở rệu lại viết với dấu hỏi, trái qui luật hài thanh?
19. Láy có cùng một nhiệm vụ nhưng viết khác: Từ ỏn hay ỏng đều có cùng một nghĩa nhưng có khi hỏi có khi ngã như ỏn ẹo, õng ẹo, ỏng ẹo, ỏng eo, ong ỏng. Tương tự hợm hĩnh và hóm hỉnh; thẫn thờ, thẩn thơ, lẩn thẩn; ầm ỉ, âm ỉ.
Từ đa âm tiết có cùng nghĩa nhưng viết khác như xà xã, xa xả, sa sả. Đúng là rừng hỏi ngã.
20. Từ láy âm thêm bớt dấu để làm nhẹ bớt cường độ không lệ thuộc qui tắc hài thanh như khe khẽ (so sánh: khẽ khàng), ro rõ (nhẹ hơn rõ rệt), lo lõ (thò lõ), thiu thỉu, lưng lửng, dê dễ, song sõng, xõng lưng hay sõng lưng, vưng vững (vững vàng), cu cũ (cũ kỹ), ky kỹ, ươn ưỡn (ưởn ẹo), lủi thủi, lùi lũi (cách khác lùi lủi) và lui lủi, khiêng khiễng (cà khiễng), loang loãng,
21. Từ đa âm tiết hoàn toàn không thể dùng QTHT để truy cứu vì có các âm tiết không có nghĩa.
Hai cách viết từ nghểu dưới đây biểu lộ cái lộn xộn của hỏi ngã
-nghểu nghến, ngất nghểu, lểu nghểu.
-nghễu nghiện, nghiễu nghến, cao nghễu, ngật nghễu, lễu nghễu.
Từ ngoài hài thanh (22 đến 27)
22. Từ miền Trung Nam là từ ngoài hài thanh. Không sử dụng dấu ngã, không lệ thuộc vào qui tắc hài thanh-tính chất này có thể dùng để xác định là từ miền Nam. Thí dụ dở ẹc, dở ẹt, dở khẹt, dở khẹc, dở òm (hai cách viết ẹc, ẹt, khẹc, khẹt càng chứng tỏ đây là từ miền Nam). Có rất nhiều từ loại này như hết xẩy, sừng sỏ, trổ mã, đen thủi đen thui, chầu quẩu, chào quảo, canh măn mẳn có vị mằn mẳn, cỏn, cổ (cô ấy), chỉ (chị ấy) cẩu (cậu ấy), mở (mợ ấy), dưởng (dượng ấy, tự điển có âm dưỡng nhưng không có dưởng), bự chảng, xảnh xẹ, chồm hổm, chàng hảng, xở lở, chè hẻ, đỏng đảnh, xảnh xẹ, chèo bẻo, bảnh tẻng, mẻo (đứng ngoài mép, cheo leo), xẻo (rạch nhỏ), xổng lưng (thẳng lưng), xửng vửng, đỏ đẻ (con nít tập nói), mủ mỉ, rỉ rịch (không TĐ), nhỏng nhẻo, mảng cầu, “mảng sầu con bạn ốm o gầy mòn”, xa xả hay sa sả, bải hải, bài hãi, bai bải, chỏi hỏi, bải bui, bải bôi, bự chảng.
Phát âm miền Nam không phải chỉ có Lục tỉnh mà phải kể luôn cả vùng miền Trung từ Nha Trang cho tới Bình Tuy, phỏng đoán khoảng 40% trong khi phát âm Bắc khoảng 30 %, phát âm Thanh Nghệ Tỉnh 15 %, bài trước quên liệt kê các xứ Quảng 10%, 5% tộc ít người.
-Láy cà: Một số lớn phát xuất từ miền Nam nên không theo hài thanh như cà rỡn, cà rổn cà rảng, cà rổng cà rểu, cà nhổng, cà tửng, cà xửng, cà khiễng, cà niểng, cà rểu (cà rỡn).
-Có người ở Úc viết báo đả kích là Bs, Kỹ sư gì mà viết chính tả trật lất như ngưạ vằn viết sai là ngựa rằn. Ông này tuy ở miền Nam gần nửa đời người nhưng không biết là miền Nam, tuy có dùng từ vằn cho vằn vện, nhưng dùng rằn cho ngựa rằn, cọp rằn, rằn ri. Xin quí vị nhẹ tay một chút nếu người ta có viết sai hỏi ngã.
-Từ bình dân như tưng tửng (điên), chảnh, chỏng chảnh, xỉn, lủm.
-Tiếng lóng như củi, chỉa,
-Từ Việt hóa từ Chợ lớn như chệt Tửng, mè xửng, chẩu, xẩm, xì thẩu, lẩu, cù lũ (đánh xì phé, có vẽ phổ biến nên đổi thành ngã), phổ ky, há cảo, sủi cảo, xúi quẩy, phì lủ, mã thầu dậu, xíng xái hay xứng xái bò lái bò khự, hằm bà lằng.
-Từ kỹ thuật như hủ lô, cần cẩu, cái cảo (đồ sửa xe hơi), mỏ lết.
23. Không biết viết hỏi hay ngã vì không có trong tự điển
Có rất nhiều từ không có trong tự điển. Đăng đẵng hay đăng đẳng không có trong tự điển điện tử nên không biết viết như thế nào cho đúng.
Từ địa phương không có trong tự điển. Một số rất lớn từ miền Trung, Nam không có trong tự điển nên đa số được viết với dấu hỏi.
Cả một số từ miền Bắc cũng không có trong tự điển như đõ (dấu ngã), trưỡng.
Địa danh đa số không có trong từ điển. Khi dùng tự điển để tra chữ Hà Tĩnh xem coi viết hỏi hay ngã thì không thấy. Cổ Cò không phải là cái voi đất có hình cổ con cò như thiên hạ thường nghĩ như thế, đây là tên nói trại đi của Koh Kor tiếng Khmer, tên một vị thần Bà La Môn và trùng tên với một ngôi đền ở Angkor.
"Người ta đồn anh bị tai nạn ở Cổ Cò phải không?"
"Không, tôi cưới vợ"
24. Từ đa âm tiết Việt hóa có hài thanh hay không? Malaya nên phiên âm theo cách nào cho đúng: Mã lai á (có nghĩa là ngựa lại châu Á), Mã lai (lai ngựa) hay Mả lay a, Mả lay (cái mả lay động).
25. Từ ghi thanh viết theo hài thanh hay viết theo tông của âm thanh. Nếu viết “tiếng võng đưa con buổi trưa hè nghe kẽo kẹc...kẽo.. kẹc, kẻo...kẹt, kẹt... kẹt” thì mô tả đúng âm thanh nhưng sai chính tả. Còn nếu viết đúng chính tả thì lại không mô tả đúng âm thanh vì có lúc âm thanh kéo dài (kẹt), có lúc cao (kẽo), thấp (kẻo), ngắn (kẹc).
26. Nói lái thì viết theo cách nào? Viết theo hài thanh, theo dấu của từ nguyên thủy, hay theo nghĩa của từ mới? “Bãi cứt” lái thành bứt cãi hay bứt cải? “Khi đu”û lái thành khu đĩ hay khu đỉ? Lái dỏm thành lỏm d... hay lõm d...?
27. Không thể chỉ học từ có dấu ngã rồi suy ra từ có dấu hỏi. Vì muốn cho gọn gàng dễ nhớ nên sách chỉ dẫn ngã chỉ bàn đến từø có dấu ngã, và cho rằng không cần phải nhớ các từ có dấu hỏi vì đương nhiên phần còn lại phải có dấu hỏi. Cách này không ổn vì không ai có thể nhớ hết mọi từ có dấu ngã, mà ta chỉ để ý đến những từ thông dụng.
Hán Việt. Phần kế tiếp là vấn đề liên quan đến chữ Hán.
28. Hỏi ngã để phân biệt từ Hán với Việt nhưng nhiều khi khó phân biệt được từ nào là Hán từ nào là Việt.
Nếu tiếng Hán dấu hỏi thì tiếng Việt dấu ngã và ngược lại: vỏ cây nghệ, vỏ cua nhưng võ nghệ, võ cua (võ này là võ ba gà, đánh trên đỡ dưới thấy bà cái lưng).
Ngược lại nếu Nôm ngã thì Hán hỏi: tả phái tả cảnh trong khi trời mưa ướt tã lót. Tương tự xả thân và xã hội, phẫn nộ và phẩn bò, hỗn hợp, hỗn hào, hổn hển.
29. Không biết nghĩa tiếng Hán thì làm sao phân biệt?
Vì sỉ là hổ thẹn khác với sĩ là người có học hay con trai chưa vợ nên liêm sỉ và sỉ nhục viết khác với sĩ diện, sĩ khí. Kẹt một cái là đa số không biết chữ Hán nên không thể phân biệt được hỗ với hổ, tỉnh với tĩnh, tể với tể để viết phân biệt hỗ tương với hổ tướng, tỉnh ngộ với bình tĩnh, chúa tể với thổ tễ?
Lơ đãng và lưu đảng tại sao viết khác? Nếu cho là có nghĩa khác thì khác nhau như thế nào? Nếu khác tại sao trong tự điển lại có từ lưu đãng?
Chẳng lẽ muốn viết đúng hỏi ngã thì phải bỏ ra nhiều năm để học chữ Hán? Như thế có đáng không? Đời người quá ngắn và còn biết bao nhiêu chuyện phải làm, hà tất phải để ý đến ba cái lẻ tẻ này, học làm chi khi chỉ chừng vài tuần là quên tuốt tuột.
30. Không phân biệt được là Hán hay Nôm nên không biết là có áp dụng được hài thanh hay không. Người viết sách hỏi ngã còn không phân được huống hồ là người miền khác. Ngõa khí, ngõa quan là từ HV viết với dấu ngã còn nếu là tiếng Nôm thì viết thợ ngõa hay thợ ngỏa?
Lơ đãng thì đãng là láy hay là từ Hán Việt? Nếu là láy thì phải viết lơ đảng còn nếu là từ HV thì khác. Trong chữ nhừ tử, nếu tử là Hán thì viết với dấu hỏi, còn nếu là láy thì phải là nhừ tữ. Cách nào đúng?
Từ ngoại quốc
31. Tên Tây phương phiên âm theo tiếng Hán thì viết theo cách nào?
Viết theo chữ Hán thì có mấy ai biết Hán tự để mà phân biệt, viết theo miền Nam, viết theo miền Bắc hay viết theo phát âm Quãng Đông?
Mã tà hay mả tà, Hướng Cỏn (theo Hướng Cảng) hay Hướng Cõn (theo đúng phát âm Quảng Đông, lên tông). Phiên âm từ “ba” tiếng Tàu là Pà pả hay pà pã? Sao không là cồ lô sãnh mà là cồ lô sảnh? Ai là người quyết định các thanh này?
32. Âm tiết
Tuy là dễ hơn hỏi ngã, nhưng phân biệt âm tiết cũng quá khó đối với người không-Bắc vì nó cũng lộn xộn, chỉ có dân địa phương nói hằng ngày mới viết trúng được. Sở dĩ có phân biệt âm này với âm kia một phần là do ảnh hưởng của tiếng Hán, do quá tôn trọng tiếng Hán nên cố phân biệt Hán và Nôm như cái bát và cô bác, phân biệt theo đúng phát âm tiếng Hán với nhau như nan giải và cẩm nang, kim loại và kiêm toàn...
Bộ óc con người không thể nhớ hết
Khi dùng tự điển điện tử để tra hỏi ngã thì lòi ra 32 trường hợp nghịch thanh nói trên. Từ nghịch thanh có quá nhiều như rừng cây làm cho không một ai có thể nhớ hết được, trừ người Bắc và người sống về nghề viết lách.
Người không-Bắc không thể nhớ được hỏi ngã vì nhiều lý do sau đây
-Chỉ có phân nửa người Bắc nói trúng hỏi ngã. Nhiều vùng miền Bắc phát âm hỏi ngã khác nhau và khác với dân Hà Nội. Chính vì thế mà mọi người, kể cả người Bắc, không biết được thanh hỏi ngã nguyên thủy là như thế nào. Muốn biết xin xem bài kế tiếp.
-N_ cả dân Hà Nội khi nói có khi hỏi biến thành ngã, thay đổi tông tùy theo tâm trạng người nói, bị ảnh hưởng của từ kề cận hay tùy từng địa phương.
-Trong khi ca, nếu một tiếng có thanh hỏi phải lên giọng cho ăn khớp với dòng nhạc thì nên viết dấu nào?
-Thanh hỏi lẫn lộn với thanh nặng và từ từ sẽ nhẹ hơn do tiếp xúc với miền khác.
- Học lấy bằng tiến sĩ nhiều khi dễ hơn học hỏi ngã. Đời người quá ngắn và còn nhiều việc phải làm, hơi đâu mà để ý tới ba cái lẻ tẻ này, ví như nữ diễn viên tên tuổi, từng lấy bằng cử nhân Ngữ văn trong nước và tốt nghiệp đạo diễn sân khấu ở nước ngoài. Khi có kẻ góp ý về một văn bản do chính diễn viên ấy viết tay lộn tùng phèo dấu hỏi với dấu ngã, chị ta nhún vai:
- Chuyện nhỏ! Thì dấu hỏi hay dấu ngã, mình cũng đọc như nhau. Vậy khi viết, phân biệt làm gì cho mệt? (Trích từ Phân biệt dấu hỏi - ngã, chuyện không đơn giản của Nguyên Tâm trong Tạp chí Tài hoa trẻ.
-Lý luận cho rằng hỏi ngã làm phân biệt từ với nhau nhưng ta lại thấy chính hỏi ngã lại làm không phân biệt nghĩa cũa từ (mục 2,3,4,5,6,7)
-Dẫu cho có nhớ được đi thì trong vòng một vài tuần hay vài ngày sẽ quên gần hết.
-Không ai dại dột bỏ ra nhiều năm học thuộc lòng hằng ngàn từ hỏi ngã chỉ với mục đích thỉnh thoảng viết cho đúng vài câu tiếng Việt.
Đó là lý do giải thích được tại sao không thể nhớ được và càng học cao viết hỏi ngã càng sai.
Bao nhiêu phần trăm áp dụng được QTHT?
Tổng cộng có 1270 âm tiết với dấu hỏi ngã, trong đó có 793 âm tiết (chiếm 62%) viết dấu hỏi, 477 ââm tiết (38%%, gồm 370 tiếng Nôm và 107 tiếng HV) viết dấu ngã. Từ Hán Việt có 107 từ có dấu ngã, trong đó 33 từ Hán Việt có dấu ngã cần ghi nhớ, 74 ít dùng (theo tác giả Hoàng Phê).
Áp dụng được qui tắc hài thanh: 63 láy + 19 từ có láy = 82. Qui tắc hài thanh chỉ cho ta viết đúng nhiều nhất là (82/ 477)x 100 = 17.2%
Thế nhưng qui tắc hài thanh hầu như bị tê liệt do một trong 32 trường hợp ngoại lệ nói trên. Rốt cuộc bắt buộc phải học hết 1270 âm tiết hỏi ngã + vài ba trăm từ ngoại lệ tức là khoảng 1500 từ hõi ngã.
Liệu có ai có thể nhớ được gần 1500 từ hỏi ngã không? Chắc chắn là không.
Học Toán, Vật Lý, tiếng Anh hay lấy bằng Tiến sĩ có khi còn dễ hơn phân biệt hỏi ngã vì chúng rõ ràng, có qui luật hẳn hòi và không phải nhớ quá nhiều. Phương pháp hiện đang được các nước Âu Mỹ áp dụng trong tiểu học và Trung học là dùng tối thiểu trí nhớ để học, vì họ cho là đã có sách vở hay máy tính, đâu cần phải học thuộc lòng. Mấy chục năm kinh nghiệm dạy kèm Toán và Lý ở Úc cho thấy trong môn Lý lớp 12 có chừng 30 công thức nhưng học sinh không phải học thuộc lòng, họ được quyền mang công thức này vào buồng thi. Môn Toán thì được mang vào phòng thi 4 trang giấy muốn ghi gì thì ghi, đó là chưa kể việc dùng Graphic Calculator ghi các program. Dễ dãi đến như vậy mà ít học sinh dám học, mà có học thì cũng quên đầu quên đuôi, thế thì tại sao ta lại bắt con nít VN và cả người lớn phải học như két gần 1500 từ hỏi ngã? Hơn nữa cách này cũng không có tác dụng lâu dài vì tuy học sinh tiểu học bắt buộc phải học thuộc lòng vài trăm từ hỏi ngã nhưng khi lên đại học hay sau khi đi làm thì quên tuốt, cùng lắm còn lại vài mươi từ.
Người Việt còn không nuốt trôi được mấy cái dấu hỏi ngã thì mấy anh ngoại quốc học tiếng Việt làm sao mà nhớ.
Thật tội nghiệp cho những người viết sai chính tả, nhất là sai hỏi ngã, bị cho là dốt nát, hóa ra là tại chữ Quốc Ngữ không có tiêu chuẩn rõ ràng về hỏi ngã, viết lung tung và lộn xộn.
Phân biệt hỏi ngã thì đúng là làm tiếng Việt rõ hơn cho một phần ba nhưng làm cho hai phần ba người Việt, không phải mù chữ Quốc Ngữ, mà là chột mắt.
Tưởng cũng nên cải tiến chữ QN để cho thiên hạ được nhờ và phù hợp với đà tiến hóa của khoa học.

Kính Chào
Linh Phượng

HU1B
Moderator

USA
132 Posts

Posted - 08/10/2007 :  00:31:00  Show Profile  Reply with Quote
Cám ơn bạn Linh Phượng đã đưa bài RHN lên Diễb Đàn Ca Dao và Tục Ngữ. Tiếc rằng bạn đã quên không đề tên tác giả và xuất xứ.

Kính thưa tác giả bài RHN. Chúng tôi thấy sự trách móc của ông/bà về hỏi ngã trong tiếng Việt có vẻ không đúng lắm. Ngôn ngữ nào cũng có biệt lệ thí dụ như tiếng Anh chẳng hạn có nhiều chữ đọc không giống như cách viết:
chữ ger khi thì đọc "gơ" như "Hamburger" khi thì đọc "jơ" như "Integer"
Chữ Vehicle đáng ra phải đọc vê - hi - cờ mà lại đọc là vi - hê - cờ
v.v.
Cách chia động từ trong tiếng Anh và tiếng Pháp cũng vậy ta không thể than phiền mà "phải học để viết cho đúng"
Kính
HU1B
Vì vậy đã là một sinh ngữ ta phải chấp nhận sự kỳ cục của nó.
Go to Top of Page

cadao
Administrator

USA
300 Posts

Posted - 08/12/2007 :  22:13:04  Show Profile  Visit cadao's Homepage  Reply with Quote
Trích từ Thư Viện Việt Nam (Của Diệu Tần)


Tình cờ tôi vừa viết xong một bài ‘Mạn Đàm Về Ngôn Ngữ” bài này sẽ đăng trên tuần báo VietTribune của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Trương Gia Vy ...
Tôi xin góp ý sơ khởi về bài viết “Rừng Hỏi Ngã”:

- Quy tắc Hài Thanh có hoàn toàn hợp lý không? Trước đây Bộ QG Giáo Dục đã công nhận quy tắc này chưa? Trong bài chính tác giả đã viết “hiện nay QT Hài Thanh đã bị phá vỡ”
- Không nên hòan tòan tin tưởng vào từ điển của các hãng lập ra font tiếng Việt
- Không có cuốn từ điển nào hoàn toàn đầy đủ chính xác. Những cuốn từ điển nổi tiếng của Anh, Pháp, Mỹ luôn luôn được cập nhật.
- Vấn đề Hỏi Ngã nảy sinh và được bàn đến nhiều từ sau 1954, và từ sau 1975. Vấn đề nảy sinh một phần là do cách phát âm miền này khác với miền khác.
- Hình như không ai ngăn cản học sinh, thí sinh mang vào lớp những hộp máy từ điển giúp trí nhớ , y như các máy khác dùng cho các môn học Tóan, Lý Hóa…
- Không nên vội vàng dạy ngưoi ngọai quốc và trẻ em Việt những phương ngữ từng miền Việt Nam khác nhau.
- Một số câu hỏi nêu lên trong bài có thể lược bỏ để chỉ thành “bụi rậm hỏi ngã” không còn là “Rừng “ nữa.

Nếu có thì giờ và còn hứng thú, tôi sẽ xin lần lượt góp ý kiến.

Tôi chỉ góp ý với tư cách bạn đọc, không phải với tư cách một thành viên của DĐNN.

Tình cờ tôi vừa viết xong một bài ‘Mạn Đàm Về Ngôn Ngữ” bài này sẽ đăng trên tuần báo VietTribune của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Trương Gia Vy. Như thế tôi nghĩ đã gián tiếp góp ý một câu hỏi nhỏ về chữ Rủ và Rũ, cũng như Rưởi và Rưỡi.


Diệu Tần

Mạn đàm về Ngôn Ngữ (3)

Rưởi/Rưỡi - Rủ/Rũ

Diệu Tần

Năm ngóai tôi được đọc cuốn Tự Vị Hỏi Ngã của Luật Sư Đinh Sĩ Trang ở Úc sọan rất cơng phu và giúp ích cho những người, thường là ở miền Nam và miền Trung, khi viết chữ Việt bỏ dấu Hỏi Ngã được chính xác.

Từ Rưởi/Rưỡi

Ông Đ. S. Trang viết rằng có người nói: Sao không dùng dấu ngã cho chữ Rưỡi, bày đặt chi cho rắc rối? Đây không phải là bày đặt, nó là cái lệ và đã trở thành luật. Đây có lẽ vì thói quen bỏ dấu và phát âm chưa đúng thôi. Khi tôi dạy tiếng Việt tại Viện Ngôn Ngữ quân đội Hoa Kỳ có giảng cho sinh viên Mỹ cách dùng Rưởi và Rưỡi, họ hiểu ra và lấy làm thú vị lắm. Bàn về cách tạo dựng chữ về số lượng mỗi nước có những cách dùng, cách ghép chữ khác biệt có thể nói là kỳ lạ, nhưng đó là ngôn ngữ, đó là lệ luật của ngôn ngữ. Tại sao Anh ngữ lại dùng seventy và seven_? Sao không dùng ten seven, hoặc ten plus/and seven để chỉ 70 và 17? Tại sao đang ten (10) lại biến thành _? Tại sao Pháp lại dùng quatrevingt dix để chỉ số 90, sao không dùng double quarant et dix hay cinquant et quarant? Vì đó là cacùh ghép chữ của người ta đã có từ lâu đời rồi, không thay đổi được.

Tôi chỉ thấy ông Đ.S. Trang trong Tự Vị Hỏi Ngã của ông có đề nghị là chỉ nên dùng RƯỠI trong mọi trường hợp: Trái rưởi, cân rưởi, giạ rưởi, ngày rưởi… chỉ có nghĩa là 1+1/2. Suốt từ Nam ra Bắc qua Trung, tôi chưa nghe cách dùng phân nửa (1/2) dưới một trăm lại nói RƯỞI bao giờ cả. Chúng ta không nên lộn số (numeral, chiffre) với cách đọc chữ số (numerical word/ numeration). Qua thành ngữ Việt Nam như câu: Chó tiền rưỡi. Câu: Ông ấy chỉ có một mắt rưỡi là ý nói ông ấy thị lực kém, nhìn không rõ, người ta nhìn bằng hai con mắt, đằng này ông ấy chỉ có một mắt rưỡi. Vậy bắt buộc phải dùng Rưởi cho những số từ 100 trở lên, từ 99,5 trở xuống phải là Rưỡi.

Theo thiển ý thì các từ điển, tự vị của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ, Hội Khai Trí Tiến Đức và của Hang Phê đã ghi đúng từ Rưởi/Rưỡi. Chúng ta biết trong ngôn ngữ có những lệ, không phải là luật, dùng lâu ngày trở thành luật, thứ luật bất thành văn, không cần giải thích.

Đến như cố GS Lê Ngọc Trụ một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng tinh thông tiếng Việt cũng không giải thích được, theo ý tác giả, tại sao lại dùng Rưỡi? Rưởi và tại sao lại không dùng? Nói về từ Nửa (half, demi) theo tôi thường chỉ dùng từ cụ thể, cho vật dụng, thí dụ: Nửa chỉ vàng, nửa cái bánh ngọt…tuy cũng có vài ngọai lệ. N_ đến vầng trăng, tưởng như là trừu tượng nhưng thật ra là cụ thể, cho nên câu thơ: Vầng trăng ai xẻ làm đơi, nửa in gối chiếc, nửa soi dăm trường, thật đã đắc địa. Chưa bao giờ người Việt Nam lại nói và viết nửa ngàn/nghìn; nửa trăm, nửa mười cả (trong Nam có nói nửa chục, nhưng dùng cho trái cây có 6, 8 trái chẳng hạn.) Từ hàng triệu trở lên chĩ dùng Nửa triệu, còn Nửa vạn, Nửa nghìn cũng ít nghe nói.

Rưởi và Rưỡi ở đây khơng nên ghép vào phép Hỏi Ngã. Rõ ràng là từ Bán (1/2; Hán-Việt) khơng cùng âm và thanh, cũng không có lệ biến thể từ Bán sang Rưởi, hoặc Việt hóa từ Bán sang Rưởi. Tác giả cho rằng Rưởi có thể là tiếng Nơm Lõi, nhưng chưa giải nghĩa Nơm Lõi là gì (thuần Nơm?) Tơi cũng chưa được biết cái lõi của Rưỡi/Rưởi là từ nào, gốc gác từ đâu, xin độc giả cho biết. Từ xưa tới nay, từ Nam chí Bắc khơng ai nĩi và viết: Mười giờ rưởi; ba chỉ rưởi vàng; sáu cân/ký rưởi thịt; năm đồng rưởi; bốn chục rưởi; hai thước/mét rưởi vải, vv..

Nếu dùng Rưởi vào những từ do tác giả đề nghị, tôi e rằng sẽ khĩ được chấp nhận qua những thành ngữ, tục ngữ dưới đây;

“Ơng ấy chỉ có một mắt rưởi” ý nói mắt ơng ta kém thị lực yếu đi 25%.
“Trông nó như con chó tiền rưởi” ý nói mọi người coi khinh nó, coi nó khơng có giá trị gì cả. Một quan tiền mới có giá, chỉ đáng một tiền và nửa tiền thì quá nhẹ, quá rẻ.
Do đó quy luật dùng Rưởi và Rưỡi của tuyệt đại đa số người Việt là đúng. Còn đề nghị khác đi có lẽ phải đợi khi có Hàn Lâm Viện mới bàn tới được.

Năm / Lăm

Có trường hợp như Năm đổi thành Lăm/ Nhăm, để giải thích rằng nếu không đổi số đếm từ 15 trở lên thì chúng ta sẽ cĩ Mười năm năm = 15 năm; Hai mươi năm năm=25 năm, do đó phải đổi từ Năm thành Lăm/Nhăm chăng?

Chữ hai mươi, …, chín mươi, rồi hai mươi lăm/nhăm, chin mươi lăm/nhăm cũng vậy? Tại sao không đồng nhất gọi là hai mười, chín mười - hai mười năm (25), chin mười năm (95)? Cái hay, cái tài tình của ngôn ngữ Việt là ở chỗ đó!

Rủ / Rũ

Nếu tác giả muốn dùng Quyến Rủ là tiếng đôi do từ Hán-Việt+Nơm tạo thành cũng không có gì để bàn theo nghĩa rủ rê, rù quến ma tác giả muốn nói. Tuy nhiên nếu muốn dùng tiếng đôi hay từ kép do từ Hán-Việt+Hán-Việt tạo thành thì Rũ quen dùng phải đổi lại là Dũ mới đúng. Tra từ điển Hán-Việt Văn Ngôn Dẫn Chứng của Nguyễn Tôn Nhan (tôi thường dùng từ điển này và từ điển của Thiều Chửu, được coi là khá chính xác, đầy đủ) thì không có từ Rũ, vì Hán-Việt không có mẫu tự la tinh R, cũng không có từ Giũ (Tuy tôi có thấy tên các ông họ Cung, tên đệm viết là Giũ), Cung Giũ A, Cung Giũ B.)

Chì có Dũ với 7 chữ Hán đồng âm dị nghĩa, thì Dũ có 11 nét và có bộ Tường có nghĩa là dẫn dụ, hướng dẫn. Do đó muốn hát cho đúng câu… mùa thu quyến Rũ anh rồi, các nam nữ ca sĩ cả ba miền Trung Nam Bắc nên sửa lại giọng Z khơng phải giọng R nữa. Hát và viết Quyến Dũ mới đúng, cịn muốn dùng tiếng đơi Hán-Việt+Nơm thì phải dùng Quyến Rủ, giọng R dấu Hỏi.

Ngòai ra còn chữ RỦ còn có nghĩa là treo xuôi xuống: Êm đềm trướng rủ màn che. Chữ RŨ nôm có nghĩa trong: Treo cờ rũ; Bà ấy khóc rũ rượi. Vậy rủ và rũ cùng là tính từ chỉ khác một đằng êm đềm, tích cực; một đằng buồn thảm, tiêu cực.

Rán / Ráng

Rán là chữ miền Nam dùng, có nghĩa như gắng, cố. (Từ điển Việt Nam của Lê Văn Đắc cho rằng ráng = cố gắng không có G, tuy khi nói hay đọc lên nghe như có G) Miền Bắc dùng Rán như Chiên trong Nam. Chê người hà tiện: rán sành ra mỡ, rán nem chả cua bể có nghĩa là chiên chả gio.ø Sinh viên Mỹ học tiếng Việt và trẻ em Việt ở Mỹ thường nói sai là nấu chả giò, nấu gà chiên (cook).

Ráng còn có nghĩa là mây buổi chiều có màu sắc do mặt trời chiếu vào: ráng chiều, ráng đỏ, ráng vàng, ráng mỡ gà.

R, D, Gi

Theo tôi phỏng đóan những tên họ người, viết R thường là người miền Bắc. Người miền Bắc, đặc biệt là vùng bỉển như Thái Bình, Phát Diệm thường phát âm vần D và Gi thành R. Do đó những ông hộ lại xưa ở vùng đó ghi tên trẻ mới sinh ra trên giấy khai sinh, nên có thể mới có tên Riệu, Rậu, Ruyên…, chữ không có ghi trong từ điển Việt và cũng không có trong từ điển Hán-Việt.

Đa số người mấy tỉnh duyên hải miền Bắc phát âm vần R cong lưỡi lên chạm nóc hàm, đúng như người miền Nam. Còn những người ở thành phố và tỉnh vùng trung châu và thượng du miền Bắc phát âm vần R thành Z, lưỡi chạm răng.

VONG = mất và VONG = quên

Có hai nhà thơ nói chuyện với nhau qua điện thư về chữ nghĩa, thơ phú nhưng độc giả trên diễn đàn ‘ảo” cũng được đọc ké. Hai người nói về “Người vong quốc’, một người bảo: Không nên nói và viết người vong quốc, người kia hỏi lại: Tại sao? Thế nào là Vong = mất và thế nào là Vong = quên?

Góp ý:

Theo Hán ngữ có tới 5 chữ VONG đồng âm nhưng khác nghĩa. Trong đó có 2 chữ, một chữ viết với bộ đầu bốn nét, có nghĩa là trốn đi; mất; bị tiêu diệt; đã chết. Trong câu hỏi của nhà thơ thứ nhì, tất cả chữ áp dụng trong thí dụ: như Quốc phá gia vong: đất nước bị tàn phá thì mọi nhà đều mất/ Vong mạng (vong mệnh): chết, mất mạng sống, là làm ẩu, biết là sai vẫn cứ làm: làm văng mạng / Quốcgia hưng vong thất phu hữu trách: Nước nhà còn hay mất, người dân (hèn) cũng phải có trách nhiệm/ Vong bản: mất nguồn gốc/ Tồn vong: sống còn, còn hay mất… đều đúng cách dùng, theo nghĩa là mất, bị tiêu diệt.

Như vậy, nếu nói, viết Người vong quốc, Hờn vong quốc là đúng cách. Tôi có ông bạn già thẩm phán, nhà thơ đã quá cố ở San Jose, lấy bút hiệu là Vong Quốc Nhân. Ngoài ra còn những thí dụ khác: Vong gia thất thổ, Đài chiến sĩ trận vong; Xá tội vong nhân. Trong những cáo phó ngày xưa còn dùng nhiều chữ Hán-Việt có chữ Vị vong nhân; survived…là người vợ, hay người chồng còn sống, (chưa chết) là tang chủ, rồi kéo theo trưởng nam, thứ nữ, đích tôn, v.v…

Chữ VONG thứ nhì (còn đọc là VỌNG) viết với bộ nữ có chữ tâm bên dưới, 8 nét có nghĩa là không nhớ, quên. Thí dụ: Vong niên, bạn vong niên là bạn giao thiệp với nhau không kể tuổi, quên tuổi đi, một già một trẻ. Vong cơ; không có ý cạnh tranh; lòng lạnh lẽo. Vong hình; quên cả hình hài của mình. Vong ngôn; im lặng mà hiểu, không cần nói lên, hiểu ngầm. Vong tình: lặng im, không động tình cảm.

Người Việt tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại, sống nhờ trên đất nước người, tuy có thể nhận nơi đất tạm dung là quê hương thứ hai, tuy nhiên nếu nói mình bị mất nước, tự nhận là người bị vong quốc vẫn được. Bởi đất nước còn đó, không bị biến mất, nhưng hiểu nghĩa rộng là bị mất chủ quyền, tài sản, nhà cửa, ruộng vườn, vơ chồng bị kẻ khác cướp mất, dù rằng bọn cường quyền, bọn cướp là người đồng chủng với mình.

http://e-cadao.com http://haphuonghoai.net http://cadao.org
http://vietnam-on-line.com
http://cadaotucngu.com/phorum/ http://cadaotucngu.net
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06