Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Nhạc Dân Ca
 Miền Nam
 Hò Miền Nam
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 01/24/2006 :  10:37:02  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Những Câu hò Miền Nam

Trân Trọng
Hà Phương Hoài

buicongcong
Starting Member

Vietnam
1 Posts

Posted - 11/01/2006 :  23:58:47  Show Profile  Reply with Quote
xin cho biet ho mien nam bat nguon vao luc nao. qua trinh hinh thanh va phat trien.
Go to Top of Page

HU1B
Moderator

USA
132 Posts

Posted - 11/02/2006 :  18:10:23  Show Profile  Reply with Quote
quote:
Originally posted by buicongcong

xin cho biet ho mien nam bat nguon vao luc nao. qua trinh hinh thanh va phat trien.




Đã truy tìm nhưng chưa kiếm được bài theo như nhu cầu của bạn
Post bài nầy để chờ khi kiếm được bài ưng ý
Mong có vị nào biết được post lên dùm
Chắc chắn anh Tieuboingoan sẽ có câu đáp vẹn toàn
HU1B

Mời xem
http://e-cadao.com/tieuluan/Honambo.htm

http://e-cadao.com/tieuluan/Dieuhocauhatmiennam.htm

Âm Điệu Dân Tộc Trong Chúng Ta


Tiến Sĩ Nguyễn Thuyết Phong
Institute for Vietnamese Music
Còn bao lâu nữa bạn có thể nghe câu Vọng Cổ trên đất Mỹ? Tôi đã nghe tiếng thở dài của một bạn trẻ trong trại họp bạn trong vùng Louisville, Kentucky, cách đây vài năm. Tôi đã nghe tiếng kêu thống thiết của nghệ sĩ lão thành Việt Hùng, Mission Viejo, California. Tôi cũng đã nghe tiếng vọng từ tâm thức tôi trong nhiều năm qua về âm điệu dân tộc có còn trong chúng ta như ngày nào đó không.

Tuy nhiên, không phải chỉ có câu Vọng Cổ, mà lo âu, thổn thức của nhiều người trong chúng ta dường như đang hướng về cả một truyền thống âm nhạc dân tộc Việt Nam--trong hay ngoài nước. Tôi không nêu ra vấn đề ở đây rằng chúng ta phải làm gì cho âm nhạc truyền thống dân tộc. Vì đó là vấn đề quá lớn, vượt ngoài tầm tay của chúng ta để giải quyết. Tôi chỉ xin bàn về thế nào một âm diệu được gọi là dân tộc và giá trị của nó trong tâm hồn chúng ta ra sao.

Âm Nhạc Dân Tộc hay Cổ Nhạc?

Danh từ nhạc dân tộc hiện nay tương đối thông dụng. Nhưng hiểu đúng đắn về nó không phải là chuyện dễ. Chúng ta còn có các từ ngữ khác như: cổ nhạc (hay nhạc cổ), nhạc cổ điển, và nhạc truyền thống. Thậm chí có người còn gọi cải lương hoặc vọng cổ thay vì gọi nhạc dân tộc. Tôi nghĩ cần phải giải quyết vấn đề danh xưng trước khi tìm hiểu về nội dung của nó.

Trước nhất, có lẽ do phản ứng tâm lý hay vì tính phân biệt mà danh từ dân tộc mới có mặt. Phản ứng nầy chỉ xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 với từ cổ nhạc để phân biệt với nhạc cải cách hay tân nhạc. Danh từ nhạc dân tộc có lẽ xuất hiện chậm hơn (vào nửa thế kỷ sau đó). Còn danh từ nhạc truyền thống do tôi thường dùng trong 3 thập niên qua trong các buổi nói chuyện, diễn giảng trong các đại học, các sách hoặc bài viết. Các bạn người miền Nam thì thấy đâu đâu cũng nghe người ta ca cải lương hay ca vọng cổ, vì thế sẽ nói chung chung là nhạc cải lương hay vọng cổ, dù rằng cải lương chỉ là 1 thể loại sân khấu trong nhiều loại sân khấu trong cả nước Việt Nam; trong khi ấy vọng cổ chỉ là 1 trong nhiều bài bản của cải lương.

Sự bùng nổ của phong trào canh tân theo Tây học và sự có mặt của người Pháp trên đất nước ta vào thời thuộc địa đưa đến việc làm quen với nhạc Tây ở các tỉnh, thành. Vì thế khoảng năm 1920 trở đi diễn ra tình trạng nhạc Tây hát lời ta. Tiếp theo tự sáng tác nhạc theo phong cách tây phương và hát lời Việt gọi là nhạc cải cách, dần dà về sau gọi là tân nhạc, nhạc mới, hoặc gần đây hơn có người gọi là ca khúc 1. Trước tình huống trên, người ta bắt đầu phân chia ranh giới "cũ" (cổ) và "mới" (tân). Vì thế, đờn ca tài tử, ca huế, ca trù, hay các loại nghệ thuật truyền thống dân tộc được gán cho danh từ cổ mà hằng nghìn năm trước đây chưa từng có. Nếu nhận xét sâu xa hơn, chúng ta thấy đây là một hiện tượng quan trọng trong âm nhạc Việt Nam. Không những chỉ là việc phân biệt cũ và mới, mà còn là một đấu tranh giữa hai khuynh hướng làm nhạc khác nhau. Kẻ theo mới tự cho mình là tiến bộ theo trào lưu thế giới, người theo cũ cảm thấy bị thiệt thòi, mất mát, và thậm chí bị khinh chê là lỗi thời. Theo mới cũng có thể đồng nghĩa với lai căng, theo tây; bảo vệ cái cũ có thể bị xem là lạc hậu, dậm chân tại chỗ. Đây là vấn đề bàn cải rất nhiều trong giới Dân tộc nhạc học (Ethnomusicology) khi phải định nghiã thế nào là tân nhạc (hay nhạc lai căn hay lai văn-hoá--accultured music) đối trọng với nền nhạc truyền thống lâu đời trong một quốc gia.

Theo thiển ý tôi, tôi không thấy hợp lý khi gọi nhạc truyền thống của dân tộc Việt là nhạc cổ vì bản chất của nền âm nhạc nầy luôn biến thiên. Người ta dùng từ cổ nhạc, chỉ với mục đích để nói cho ngắn gọn thôi. Nếu đem so với nền âm nhạc cổ (hay cổ điển--classical music) Tây phương, chúng ta sẽ thấy nhạc cổ điển Tây phương là loại nhạc giữ nguyên dạng cũ, giữ vẻ cố định (tĩnh) theo ý muốn của các nhà soạn nhạc. Trong khi ấy, các bài bản truyền thống của ta chỉ giữ cái làn diệu mẫu làm nền cho việc sáng tạo chữ nhạc mới (động). Lấy ví dụ, bài Vọng Cổ được diễn tả với hàng trăm âm điệu khác nhau. Hay bản Long Ngâm (theo tục truyền do Trịnh Trọng Tử sáng tác năm 1310) hiện nay còn trình tấu trong nhạc cung đình Huế với một dạng rất có thể khác với khi xưa. Vì thế, việc gọi một nền âm nhạc của dân tộc có mặt lâu đời trên đất nước ta là nhạc dân tộc hay nhạc truyền thống dân tộc nghe ra hợp lý hơn. Nó vừa tránh được sự va chạm ý kiến cũ và mới, nó lại vừa phân biệt rõ ràng được nhạc của dân tộc ta đối với nhạc của các dân tộc khác trên thế giới.

Âm Điệu Dân Tộc: Cấu Trúc Cơ Bản

Chúng ta thường nghe nói, mỗi dân tộc có một nền âm nhạc với những đặc trưng của nó. Nhưng trong một quốc gia không chỉ có một dân tộc mà thôi, mà còn có rất nhiều dân tộc sống chung trên một mãnh đất lịch sử dựng nước và giữ nước. Biên giới địa lý và biên giới dân tộc, vì thế, không hẳn phải đồng nghĩa nhau. Trong lúc dự hội nghị Âm Nhạc và Giáo Dục tại viện đại học Nanyang ở Singapore, tôi gặp một bạn sinh viên ban Tiến Sĩ Vật Lý đang nghe nhạc bằng Discman. Sau một lúc nói chuyện, tôi mới hiểu ra rằng anh ta đang nghe một CD nhạc của Madona và thích thú cho rằng đây là nhạc xứng đáng đại diện cho nước Mỹ. Tôi mới hỏi anh ta có biết nhạc Blue Grass, Blues, Gospel, hay dân nhạc Apallachian hay không? Anh ta không biết tôi đang nói gì vì anh ta chưa từng nghe những danh từ nầy bao giờ. Vì thế, nếu bảo rằng một Madona hay Michael Jackson là đại diện, biểu trưng cho âm nhạc của nước Mỹ quả là chuyện hết sức sai lệch. Nó chứng tỏ sự hạn chế tầm kiến thức về dân tộc và những giá trị văn hóa độc đáo của nó. Nước Mỹ không chỉ có nhạc của một dân tộc đa số (da trắng) hay một loại nhạc, mà trong ấy có nhiều truyền thống âm nhạc đa chủng hợp thành.

Đất nước Việt Nam gồm cả những 54 dân tộc. Phải công minh mà cho rằng ngoài dân tộc đa số (Việt) còn có nhiều truyền thống âm nhạc khác của các dân tộc thiểu số. Hiện nay nhạc của các dân tộc thiểu số nầy chưa được biết đến một cách thoả đáng hay nghiên cứu đầy đủ. Mà làm sao đi đến thoả đáng khi mà âm nhạc của riêng người Việt là rừng là biển, chưa ai có thể với tới hết. Tình hình hiện nay không những chúng ta chưa hiểu hết, chưa nghiên cứu hết, mà thậm chí còn hiểu lầm, ngộ nhận nữa. Như vậy, thế nào là âm điệu dân tộc?

Ở đây chúng ta chỉ bàn về âm điệu của dân tộc Việt và cụ thể chỉ nên đặt giới hạn ở mặt giai điệu, âm hưởng, và cấu trúc của nó thôi.

Cách tiến hành giai điệu của mỗi truyền thống âm nhạc các dân tộc trên thế giới rất khác nhau. Cái gì làm nhạc dân tộc ta khác với các dân tộc khác--ở trong nước cũng như trên thế giới? Trước nhất, ta phải nói đến hai khía cạnh: thanh nhạc và khí nhạc. Nói một cách khác, âm thanh của các bài hát và làn điệu của nhạc cụ là hai phần tử vừa bổ sung cho nhau, vừa có thể đứng độc lập nhau. Những bài dân ca, truyện kể nguyên trước đây không có nhạc đệm. Làm sao có nhạc cụ đệm khi vừa làm việc ngoài đồng áng, tay lấm chân bùn, hoặc hò chèo thuyền trên sông, mà vừa có nhạc đệm? Ngay cả trong hát quan họ, một thể loại dân ca điển hình, hát trong lễ hội Lim, mà người ta cũng không dùng nhạc cụ đệm. Khi đi vào nhạc thính phòng (ca trù, ca huế, tài tử) bài hát và khí nhạc mới quyện lấy nhau. Rồi từ đó lại nẩy sinh ra hòa tấu nhạc cụ riêng lẻ dựa vào các bài hát đã có.

Tuy nhiên, dù là thanh nhạc hay khí nhạc, âm điệu Việt Nam vẫn phải có một quy tắc, phương pháp chặt chẽ, cố định, lâu đời. Quy tắc ấy là hệ thống thang âm, điệu thức hết sức độc đáo, không thua kém các dân tộc nào khác trên thế giới. Tôi xác định điểm nầy căn cứ trên nghiên cứu, tham khảo, tham luận quốc tế và bảo tàng mà tôi thực hiện từ 3 thập niên qua.

Hệ thang âm (scale system) trong âm nhạc Việt, phân tích ra ta sẽ thấy các giai diệu có từ 2 cho đến 12 âm chính. Nếu kể cả các âm phụ, một bản nhạc có thể lên đến 16 âm. Đặc điểm của hệ thang âm Việt Nam là cung bậc cao thấp khác nhau. Cụ thể, nó cho thấy nhiều âm quãng rất dị biệt với nhạc phương Tây mà chúng ta thường quen thuộc. Một nhạc sĩ mà tôi có dịp phỏng vấn ở Orange County cho rằng nhạc dân tộc có những nốt "lơ lớ." Thực ra, người trong nghề nhạc truyền thống dùng hai từ chuyên môn là non (flat) và già (sharp). Họ thường nhắc nhở người đàn, người hát phải lưu ý sử dụng cho đúng cung bậc. Vì nếu không sẽ bị chinh (chênh lệch). Tôi và các giáo sư ở đại học Washington (Seattle), đã đo các tầng số sai biệt trong hệ Ellis (gồm 1200 cents trong một quãng tám) giữa những âm già hoặc non hơn âm (degree) tiêu chuẩn trong khoảng 5 đến 10 cents. Các âm quãng quá nhỏ nầy mà người Việt có thể nghe được nhỏ hơn ngay cả quarter tone mà các nhạc sĩ nhạc cổ điển Tây phương có thể nhận ra. Như vậy, điều nầy còn cho thấy trình độ thẩm âm của người Việt rất cao.

Nếu trong tiếng nói của người Việt có nhiều dấu giọng, trong âm nhạc dân tộc giai điệu được phát triển cùng chiều với tiếng nói và làm nó thêm đậm đà, tinh tế hơn lên. Sự cách điệu hóa ngôn ngữ nầy thể hiện trong tất cả các bài hát, trong các thể ngâm thơ. Tiến trình âm nhạc trong ngâm thơ khởi đi từ cách đọc một bài thơ với những chữ nhấn giọng, lên giọng, âm lượng to, nhỏ, hay vè (vè Thông Tầm, vè Mụ đội, v.v.) hoặc nói thơ (như nói thơ Vân Tiên, nói thơ Sáu Trọng, v.v.), cho đến cách ngâm Kiều, ngâm sa mạc, bồng mạc, ngâm xuân, v.v. Nếu bạn nghe lại từng chữ, từng tiếng phát âm và so với cách nói thông thường, bạn sẽ nhận ra thế nào là nhạc điệu dân tộc qua tiếng nói.

Một nét tương đồng với thanh nhạc là, trong khí nhạc, các nhạc cụ như tranh, nhị, nguyệt, đáy đều phải có phím cao lên để ngón tay người đàn có thể bấm sâu xuống cho việc luyến láy. Cây đàn ghi-ta (lục huyền cầm) từ phương trời châu Âu, vào khoảng thập niên 1920 cũng phải "bị" móc sâu ở khoảng giữa các phím để tập nói tiếng ta! Và trong quá trình "Việt hóa" ấy, nó đã thành thục, và trở thành một nhạc cụ nồng cốt trong âm nhạc cải lương.

Đi sâu hơn vào chi tiết tỉ mỉ của âm thanh, bạn sẽ nhận ra sự luyến láy tài tình của nhạc sĩ và ca sĩ. Trong âm nhạc học, sự uốn nắn chữ nhạc (note) nầy được gọi là ornamentation. Nó là một nghệ thuật độc đáo, mà chỉ một số ít dân tộc trên thế giới ứng dụng thành phương pháp, quy luật lâu đời và tuyệt nhiên quan trọng, trong đó có dân tộc Việt. Trong một buổi họp mặt ở Kent State Univesity, khi bàn về cảm thức khi nghe nhạc để biết được buồn hay vui, Giáo sư John Lee (Giám Đốc Trường Âm Nhạc thuộc viện đại học nầy) nói ta phải nghe một hợp âm (chord) hoặc 1 làn điệu trong nhạc Âu Mỹ mới biết đuợc. GS Lee quay sang hỏi tôi nghĩ như thế nào trong nhạc Việt Nam? Tôi trả lời, trong nhạc dân tộc Việt, chỉ cần một chữ nhạc (note) là người ta có thể biết ra ngay là buồn hay vui. Để cho các giáo sư và sinh viên được dịp thể nghiệm, tôi bước sang góc phòng bên kia và đánh lên một tiếng đàn bầu luyến láy theo hơi xuân, rồi đến một tiếng theo ai, một tiếng theo hơi đảo, v.v. và hỏi các vị thấy cảm giác có khác nhau hay không. Mọi người bừng tĩnh ra đấy là sự thật. Một cô sinh viên bật thốt lên: thật kỳ diệu!

Thế cũng cho thấy thêm một khía cạnh nữa trong nhạc nước ta, rằng chỉ cần nghe một tiếng đàn, người sành điệu cũng biết được người đàn hay hay dở. Ôi, chỉ một tiếng đàn mà có thể làm rung động lòng người! Hiện tượng siêu tuyệt mà Nguyễn Tuân, trong quyển Chùa Đàn, đã huyền thoại hóa tiếng đàn khi luyến láy hay đến nổi chảy máu trên đầu ngón tay. Trong Truyện Kiều, hay vô số những truyện tích dân gian đề cập đến chữ đàn tuyệt diệu. Sức hấp dẫn của một tiếng đàn điêu luyện, vì thế, còn chứng tỏ sự học tập lâu dài, năng khiếu "trời cho", và tính sáng tạo trong âm nhạc chuyên nghiệp. Tôi xin nhấn mạnh chữ "sáng tạo" ở đây, để bạn đọc hiểu rằng âm nhạc truyền thống Việt không phải là nhạc "cổ", vì nó luôn luôn đổi mới và gắn liền với tên tuổi người nghệ sĩ. Nó là dấu ấn trong nghệ thuật âm nhạc của mỗi cá nhân có một quá trình học tập và làm nhạc vững vàng.

Một khía cạnh sau cùng là sự thành hình giai điệu trong âm nhạc dân tộc. Vì âm nhạc dân tộc mang tính điệu thức (modal) nên ngoài thang âm, chữ luyến láy (ornaments), còn có các làn điệu mẫu (melodic patterns) lập đi lập lại nhiều lần. Nó gợi cho chúng ta một tình cảm chủ yếu, duy trì trong phạm vi một lớp (section) hay một bài. Thuật ngữ trong âm nhạc Việt rất phong phú và có giá trị văn hóa cao. Để chỉ cho loại tình cảm trong bài nhạc ra sao người ta dùng các danh từ chuyên môn như: "hơi", "điệu" hay "điệu thức", "giọng", "thể", v.v. tùy theo địa phương, tùy theo truyền thống Bắc, Trung hay Nam. Ca trù dùng đến 36 giọng khác nhau. Trong đờn ca tài tử, cải lương và ca Huế có các hơi xuân, ai, đảo, oán, bắc, hạ, thiền, v.v. Những từ nầy rất khó dịch sang tiếng nước ngoài vì tính chuyên dùng, có liên hệ đến địa phương ngữ, cũng như môi trường sinh hoạt xã hội. Cần nói thêm, trong lúc trình diễn chúng ta còn thấy có sự chuyển thể giai điệu (hay chuyển điệu), từ nam sang bắc, từ ai sang xuân, v.v. hoặc chuyển hệ, đi từ thang âm nầy sang một thang âm khác trong các đoạn nhạc, các lớp của toàn bài.

Âm Điệu Dân Tộc: Bản Thể Văn Hóa Của Chúng Ta

Những yếu tố đa dạng, phong phú và tế nhị vừa nêu trên mang tính hết sức đặc trưng trong truyền thống âm nhạc dân tộc Việt. Đó là nền tảng âm thanh không phải chỉ vài ba năm, mà là sự kết tinh của nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ. Đó cũng không phải chỉ là một khía cạnh âm thanh của người Việt, mà là một thể hiện tập trung của ngôn ngữ, tập quán, đời sống sinh hoạt xã hội, và tư duy mỹ cảm. Âm điệu dân tộc là sự phản ánh những giá trị độc đáo của con người.

Chúng ta không thể tách rời âm nhạc khỏi bản thân của con người đã làm ra nó. Chúng ta phải hãnh diện về nó, vì nó là thành tựu của cả lao động trí óc (suy tư, sáng tác, v.v.) lẫn lao động chân tay (người thợ đóng đàn, di chuyển đàn, xếp đặt sân khấu trình diễn, v.v.). Những dàn đại nhạc, những loại nghệ thuật sân khấu dân gian và cung đình, những hình thức ca nhạc tri âm tri diệu (thính phòng), những nghi thức lễ nhạc Phật Giáo, những truyền thống ca múa dân gian (múa gậy, múa xuân phả, hát dân ca, v.v.) là cả một kho tàng vô cùng qúi báu và rộng lớn của dân tộc ta. Phải nói, đãy là bản sắc văn hóa của người Việt mà chúng ta có đầy đủ lý do để tự hào.

Một giọng hát, một câu hò "Chiều chiều trước bến Văn Lâu ..." một câu quan họ, hay một câu vọng cổ cất lên làm ta thấy cả "hồn dân tộc trong ấy" (xin mượn câu nói chan chứa ý nghĩa nầy của nghệ sĩ Việt Hùng) 2 . Tại sao? Vì âm điệu ấy thoát ra từ tiếng nói, từ ngón tay đầy mỹ cảm của dân tộc Việt.

Trong nhiều năm qua, tôi làm một thử thách nho nhỏ cho chính mình là đi nhiều miền của đất nước Việt Nam, lắng nghe từng diệu hát dân ca quan họ ở Bắc Ninh, bài chòi ở Bình Định, hò lý ở Mõ Cày (Bến Tre), quan sát từ những điệu múa xuân phả (điệu múa mang mặt nạ, rất hiếm có trên thế giới), múa đội đèn ở Thanh Hoá, múa hoa đăng cung đình Huế, múa dâng bông ở Khánh Hòa, những đêm ngồi lê trên chiếu chèo Hà Nội hay tuồng (hát bội), cải lương, ở các thành phố và tỉnh lẻ. Rồi đến những đêm nằm trên nhà sàn cao nguyên mà nghe tiếng tiếng đàn goong, nghe tiếng cồng chiêng lễ hội Giarai, Banar mà tôi thấy yêu qúi quê hương Việt Nam làm sao. Những kỷ niệm không thể kể hết qua hằng ngàn trang giấy. Nó vẫn còn hạn hẹp. Duy chỉ có một điều làm lòng tôi thấy an tâm nhất: dân tộc Việt có âm điệu sâu hằng nghìn năm, rộng như biển cả, rừng nghìn trùng. Âm điệu dân tộc tiềm tàng trong những sử ca, trong Bình Ngô Đại Cáo, trong Kiều, trên sông Hồng, sông Hương, trên dòng Hậu Giang miên man, trên đồng lúa xanh như ngọc, và trong tiềm thức trong mỗi con người Việt Nam. Ước mong âm điệu dân tộc vẫn còn mãi trong chúng ta.

Sách đọc thêm:

Nguyễn, T. Phong, Vietnam, The Garland Encyclopedia of World Music, Volume 7: Southeast Asia. New York/London, 1998: 444-536.
Nguyễn T. Phong và Patricia Shehan Campbell. From Rice Paddies and Temple Yards: Traditional Music of Vietnam. Danbury (CT): World Music Press, 1991)
Nghe nhạc (CDs):

Song of the Banyan: Phong Nguyen Ensemble. Music of the World. CD.
Eternal Voices: Traditional Vietnamese Music in the United States. Alliance Records. Double CD set.
Music of the Lost Kingdom: Hue, Vietnam. Lyrichord. CD.
Music of the Truong Son Mountains. White Cliffs Media. CD.
Ghi chú:
1. Tác giả phỏng vấn nhạc sĩ Lê Yên. Hà Nội, 12/6/1994.
2. Tác giả phỏng vấn nghệ sĩ Việt Hùng. Mission Viejo, CA, 28/4/2000.

Nguyễn Thuyết Phong. Tiến sĩ Âm nhạc học (Sorbonne, Paris) và được phong National Heritage Fellow (Nhạc sĩ Di Sản Quốc Gia) tại White House (1997), Hoa Kỳ. Hiện là nhà nghiên cứu và giáo sư thỉnh giảng tại Trung Tâm Giáo Dục Âm Nhạc Thế Giới thuộc Viện Đại Học Kent, tiểu bang Ohio, và các trường đại học trên thế giới.


Trich từ "Institute for Vietnamese Music
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 09/05/2008 :  05:44:27  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Lâu rồi TBN không vào mục này, nên hôm nay mới có đọc bài của các bạn.

Tình Yêu Trong Câu Hò Nam Trung Bộ


Với địa bàn thuận lợi cho việc tiếp nhận và giao lưu, vùng đất Nam Trung bộ đã tiếp thu được nhiều nguồn văn hóa: phía Bắc vào, Tây nguyên xuống, Nam bộ ra và nguồn văn hóa Chiêm Thành ngay tại địa phương. Nhân dân Nam Trung bộ vốn đã có sẵn hàng nghìn câu hát, hàng trăm làn điệu dân ca, trong đó có rất nhiều những điệu hò mang âm điệu khỏe khoắn và lãng mạn. Dù là hò khoan, hò đò, hò đi cấy, hò tát nước, hò giã gạo hay hò giựt chì... điệu nào cũng nhằm hướng đến sự rung cảm của tâm hồn, sự gợi mở của nhiều tầng tâm thức. Và, dù là hò gì đi chăng nữa, vấn đề muôn thuở của con người là tình yêu vẫn được dành phần ưu tiên nhất.

Nước dưới sông lững đững
Mây đưa gió dật dờ
Tơ duyên đã buộc sờ sờ
Qua đây bậu đó còn chờ đâu xa


Hò Nam Trung bộ hầu hết là hò lao động. Nó diễn tả những thao tác làm việc trong cuộc sống hàng ngày theo nhữn nhịp điệu khác nhau. Tuy nhiên, yếu tố trữ tình vẫn luôn luôn đưỢc lồng vào một cách khéo léo. Vì thế hò lao động vừa cổ vũ, tạo nhịp điệu cho công việc vừa chuyển tải tâm tư tình cảm con người.

Ai trắng như bông, lòng tôi không chuộng
Người đó đen giòn làm ruộng tôi thương
Biết rằng dạ có vấn vương
Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi


Khởi phát từ những lời lẽ chân thật, mỗi câu chữ trong từng điệu hò cũng rất chân thật. Chân thật nên gần gũi, nên dễ rung động. Có những câu hò rất giống các kiểu hò huê tình, đong đưa, đùa cợt nhưng cũng có những câu âm điệu ai oán, não nùng. Mỗi sắc thái tình cảm hiện lên cụ thể nhưng cũng rất ví von để người nghe thấy lắng vào lòng, thấy ngấm vào gan ruột.

Đây là lời thề của một chàng trai quê, vừa là lời khẳng định sự cương quyết trong tình yêu:

Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thời mặc chết, buông nàng (tôi) không buông


Còn đây là lời thề thủy chung của người con gái:

Giàu như anh sớm canh chiều cá
Nghèo như em sáng rổ rau má chiều trả cua đồng
(Nhưng) công cha em không bỏ, nghĩa chồng em không quên


Tình yêu đôi lứa trong câu hò Nam Trung bộ có rất nhiều cung bậc. Đó là những giận hờn oán trách, đó là lời tán tỉnh bóng gió xa xôi, đó là lời thề thủy chung son sắt... Cũng có khi đó là những lời than thân trách phận, khóc thương cho duyên số lỡ làng... Tất cả những biểu hiện tình cảm đó ở nhiều khía cạnh khác nhau đều nhằm hướng đến ca ngợi tình yêu, khẳng định tình yêu. Đối tượng thứ 2 - người nghe - chính là đối tượng mà người hò hướng đến, để tâm sự, để tỏ bày: không có cái dữ dội của tình yêu hiện đại nhưng có cái mạnh mẽ của ý hướng "muốn có nhau". Đó là những lời tâm sự không phô diễn mà kín đáo, không cuồng nhiệt mà vẫn đủ độ mặn nồng, không lời hoa bướm nên chân thành rất mực.

Thuốc ngon Bình Định
Giấy quyến Sa Huỳnh (1)
Ai xa thì mược nẫu, hai đứa mình đừng xa


Hay:

Mưa sa nhỏ giọt như dầu
Khổ thời anh chịu chứ lìa nhau anh không lìa


Không chỉ có tán tỉnh, hẹn thề, hò Nam Trung bộ còn đề cập đến vấn đề - thân phận con người, thân phận tình yêu. Đó là những "Thân em như trái bòng bong", "Thân em như hạt mưa sa", "Số anh là số long đong", "Đời anh lên núi xuống rừng"... Tất cả tạo nên tính phức điệu, đa thanh trong từng câu hò điệu hát.

Nghĩ tơ duyên đã lỡ
Giận căn nợ bời bời
Đau lòng ai lắm ai ơi
Xui chi cho gặp để chẳng trọn đời với nhau


Đây là lời than thân trách phận còn bóng gió. "Gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết, Gặp bà Nguyệt gạn thật cho rành" chỉ là một cách nói, để vơi bớt nỗi lòng mà thôi. Các đối tượng yêu còn vượt lên trên liệu pháp tinh thần đó và nói thẳng với người cần phải nói:

Anh nói với em như rìu chém xuống đá
Như rựa chém xuống đất
Như mật rót vào tai
Bây chừ anh nỡ nghe ai
Bỏ em giữa chốn non đoài hở anh?


Kỷ niệm cũng được đem ra để oán trách kẻ bạc tình:

Hồi nào đi tát nước cùng kêu cùng hú
Hồi nào đào hang củ cũng rủ cũng ren
Bây giờ trống nọ xa kèn
Đàn kêu tiếng khác anh quen ai rồi?


Trong tình yêu, dường như mọi cử chỉ đều có giá trị biểu cảm. Mọi lời ví von, so sánh đều là những cách bày tỏ tâm tình. Trong hò Nam Trung bộ, vấn đề tình yêu đôi lứa được đặt vào những khung cảnh gần gũi, những hành động bình thường. Trong nhiều trường hợp, đó là con đường cần thiết cho một người thích đi vòng vo trên hành trình tìm đến tình yêu. Chàng trai nông dân thì mượn cảnh "sương sa trời đất mờ mờ", chàng trai sông nước thì mượn "đèn treo cột đáy" (2) để nói lòng mình. Những hình ảnh này tạo ra sắc thái gần gũi trong lời ca, tạo nên sự lung linh của "phông" cảnh. Vì thế, hò lao động trở nên dễ nhớ, dễ nghe và nhất là dễ tác động vào lòng người hơn.

Có một điều ai cũng quí - đó là lòng bao dung. Trong tình yêu, bao dung là cách để nuôi dưỡng tình yêu, để tôn vinh tình yêu và là nhịp cầu hạnh phúc trong chuyện lứa đôi. Họ cũng đã nói lên điều ấy.

Con cuốc lẻ đôi cuốc ngồi than khóc
Huống chi hai đứa mình phân tóc chia tơ
Giận nhau vác phạng chém bờ
Chém nhằm bể sống, lưỡi giơ lên trời.


Văn học dân gian, các giai điệu dân gian mãi là nguồn nuôi dưỡng và gạn lọc đời sống tinh thần con người. Những giai điệu đẹp không những làm phong phú tâm hồn mà còn làm cao cả con người. Cuộc sống dù có hiện đại đến đâu, trong thực đơn văn hóa cũng cần phải có một món dân ca...

===================

(1) Giấy quyến: (tiếng địa phương) giấy để cuốn thuốc hút
(2) Đáy: một dụng cụ dùng để bắt cá

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 09/05/2008 :  05:53:08  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
HÒ NAM BỘ

Nói đến nghệ thuật ca hát dân gian cổ truyền Nam Bộ mà chỉ đóng khung trong một số làn điệu vọng cổ hay bài bản cải lương, ca nhạc tài tử, thì quả chưa đầy đủ. Mặc dầu chúng ta không phủ nhận tính hấp dẫn, yếu tố truyền cảm gây xúc động mạnh của các thể loại ca hát đó, nhưng đứng trên góc độ nghiên cứu mà xem xét, thì sự phiến diện nói trên có thể đưa đến những nhận định không toàn diện, và hiện tượng nhầm lẫn giữa ngọn và gốc có thể xảy ra. Nội dung vấn đề trao đổi của bài viết này nhằm tìm hiểu tính chất phong phú của nền dân ca Nam Bộ, một bộ phận trong kho tàng âm điệu dân gian phong phú và quí báu của đất nước ta.

Nói đến Nam Bộ, chúng ta nghĩ đến một vùng đất màu mỡ có phong cảnh thiên nhiên xinh đẹp hữu tình, có tài nguyên giàu có, trù phú. Không thể quên được con người Nam Bộ với tính tình cởi mở, hào hiệp, nặng nghĩa nhiều tình... mà hình như đất nước thiêng liêng đã dành riêng cho mảnh quê phương Nam này! Từ Đồng Nai, Long Khánh, Biên Hòa, Đất Đỏ... với những lô cao su thẳng tắp, bạt ngàn, sừng sững hiên ngang... như muốn vươn lên hàng triệu cánh tay xanh biếc, rậm dày... che kín cả khoảng trời mênh mông... chúng ta đi dần xuống miền châu thổ Cửu Long với những cái tên nghe "là lạ" "dễ thương" như: Mỹ Tho, Bến Tre, Long Xuyên, Cần Thơ, Rạch Giá... băng qua những "tấm thảm vàng tươi" đang óng ánh trĩu cành phơi mình dưới ánh nắng chói chang của miền gấn xích đạo.

Sau đó, chúng ta sẽ được nhẹ nhàng, ung dung khua từng nhịp chèo nhặt khoan trên những dòng kênh lăn tăn gợn sóng, dưới những rặng dừa xanh vào những buổi chiều êm đẹp... rồi để có dịp bâng khuâng nghe những câu hò về đêm ngân vang dòng sông, bến nước... Và khi tới tỉnh Minh Hải lắm cá nhiều tôm, đặt chân lên mũi Viên An, mỏm đất tận cùng của quê hương phương Nam... nghe biển Đông sóng vỗ quanh năm, một lần nữa, chúng ta càng được khẳng định thêm về khả năng vĩ đại chính phục thiên nhiên, cải tạo hiện thực của con người trước bao nhiên biế cố. Phải chăng phong cảnh thiên nhiên của thực tại vốn tràn đầy thơ mộng, nên càng khơi nguồn âm điệu dạt dào cho dân ca Nam Bộ giàu chất trỡ tình, đậm màu thi vị... chắp cánh cho những hoài bão ước mơ sớm trở thành hiện thực...

Chúng ta hãy làm quen với một đoạn hò tâm tình:

... hò ơi!... Nho nhỏ như ai, chớ còn nho nhỏ như em đây luôn chặt dạ bền lòng. Dẫu cho nước Đồng Nai có chảy cạn, đá Đồng Nai có bị mòn, thì thủy chung như nhứt, trước sau em vẫn giữ sắt son lời nguyền... ơ

(Hò miền Đông Nam Bộ)

Hay những lời "oán trách" nhau trong điệu hò Trà Vinh:

Hò ơi... Tay cắt tay bao nỡ... ruột cắt ruột sao đành! Một lời thề biển cạn non xanh. Chim kêu dưới suối, vượn hú trên nhành, qua không bỏ bậu ơ ơ... mà sao bậu đành bỏ qua ơ ơ...

Cũng như tên nhiều miền của đất nước, hò là một điệu dân ca phổ biến ở Nam Bộ nói riêng. Hò được gắn liền với sông nước, với khung cảnh êm ả, phẳng lặng. Với một âm hưởng phóng khoáng, tự do, mang ít nhiều nhân tố "tự sự", "vịnh thán", hò thường được dùng để ngợi ca hay đề cao một đạo lý tốt đẹp nào đấy như lòng chung thủy sắt son, niềm tin yêu chặt dạ bền lòng... Âm điệu của các thể loại hò ở từng địa phương thường không giống nhau về chi tiết luyến láy, về các xử lý các "âm điệu" giữa câu, hay cp1 đôi khi cũng khác nhau về kết cấu toàn bộ. Thí dụ như, hò Đồng Tháp thì kết ở một nốt thuộc "át âm", nhưng trong lúc đây, tuy cùng một điêu thức "xon", nhưng hò Miền Đông, hò Bạc Liêu, hò Gia Ninh, thì lại dùng nốt chủ âm để kết hoàn toàn.

Việc xử lý kếu cấu này tùy thuộc vào phong cách, vào nội dung của từng vùng, nhằm thể hiện được tính cách riêng biệt, màu sắc độc đáo, chứ không phải là không có dụng ý. Thông thường do ý nghĩa của nội dung lời hò giữ vai trò quyết định, nên giai điệu của hò này được tiến hành theo đường nét bình ổn, "lên dần" hoặc "xuống dần", cố tránh những bước nhảy quãng đột xuất, nhằm tạo ra một phong vị êm đềm, nhẹ nhàng như kiểu "ngân nga, tự sự", nặng đi vào chiều sâu lắng hơn là ầm ĩ, huyên náo. Hoàng cảnh xã hội ngày càng thay đổi, nên nội dung và hình thức hò cũng được cải biên và bổ sung cho thích hợp. Ví dụ như, khi Mặt trận Bình dân bên Pháp chiếm được nhiều thắng lợi trênn địa hạt chính trị, thì ở Nam Bộ, kế bên những loại hò mộc, hò huê tình, hò đối, hò thơ, hò truyện... lại xuất hiện thêm một loại hò gọi là hò quốc sự. Nội dung hò quốc sự đề cập đến những vấn đề chính trị cổ vũ và động viên tinh thần yêu nước của quần chúng. Sau đây là một đoạn của hò quốc sự.

Nữ (vấn):

Hò ơi! Trên đời mọi vật bẩn nhơ
Đều nhờ rửa nước trở nên trong lành
Đến khi nước phải nhơ tanh
Lấy gì mà rửa xin anh phân cùng...

Nam (đáp):

Hò ơi! Em ơi trải bao thế hệ oai hùng
Nước nhà lâm nạn anh hùng ra tay
Hi sinh bao quản thân dài
Máu đào từng rửa, "nước" rày thành trong...

Nội dung lới của hò phần lớn dựa trên cơ sở của lối thơ lục bát, nhưng khi xử lý thì có thể giữ nguyên, hoặc có khi lại mở rộng dài hơn để khớp với âm điệu của câu hò. Vì thế việc sáng tác ra những câu hò được đông đảo quần chúng tham gia dễ dàng và nhanh chóng thu hút được sự hâm mộ của quần chúng. Về tháng bảy âm lịch, thường là mùa cấy rộ và cũng là lúc mà các "vạn" cấy (như phường, hội) được có dịp trổ tài vừa cấy giỏi lại vừa hò hay... và dĩ nhiên sau những lần gặp gỡ, biết mặt... biết tài nhau... là đến những lời hò hẹn cho những ngày sau mùa gặt hái...

Kế bên những điệu hò trữ tình, êm dịu, dân ca Nam Bộ còn bao gồm những bài hát lý (hay là nhữngđiệu lý). Lý là những khúc hát ngắn gọn, vui tươi, dí dỏm, mang tính chất lạc quan yêu đời rõ nét với các dịp điệu phong phú và sinh động.

Như bài Lý ngựa ô (Nam Bộ):

Lý con ngựa... ngựa ô (2 lần)
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen
Búp sen lá đậm - Dây cương đầm thấm
Cán roi anh bịt đồng thà...

Lá anh í a đưa nàng... là anh đưa nàng về dinh (2 lần)

... Nhưng cũng có khi, lý lại được pha lẫn vào chút ít màu sắc trữ tình man mác như bài Lý lu là:

Ai về giòng dứa mà qua truông
Nhắn thăm lu là với bậu ơ bậu ơi!
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho ai?
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho anh!

Xét về phương diện âm hưởng nói chung toát ra từ các điệu hò và Lý Nam Bộ, chúng ta rút ra được chất tinh khiết, chân thật, tuy mộc mạc, pha lẫn chút in âm điệu mênh mông của hò, với nhịp điệu sinh động, vui phơi phới đầy tươi mát của các điệu lý. Đặc biệt về mặt kết cấu, lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn rõ ràng. Sự trình bày phần âm điệu được mạch lạc, có tính nhất quán toàn bộ, và dễ phát hiện, không cầu kỳ, phức tạp, ngổn ngang.

Cách vận dụng và xử lý các hệ thống điệu thức dân gian 5 cung hoặc 7 cung, hoặc 5 cung có thêm bớt bất thường trong thể loại lý, càng tạo thêm được nhiều sắc thái về giọng điệu, càng làm phong phú thêm, mở rộng ra nhiều khả năng kết hợp chặt chẽ giữa âm điệu và ngôn ngữ. Hiện nay, theo chỗ chúng tôi được biết thì các cơ sở nghiên cứu đã sưu tầm và chỉnh lý hơn 40 điệu lý như: Lý con sáo, Lý giao duyên, Lý cây bông, Lý chúc rượu, Lý chia tay, Lý cây gòn, Lý con chuột, Lý bình vôi v.v...

Mỗi điệu lý nói trên đều có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất (như Lý đất dòng chẳng hạn), hoặc ca ngợi những đức tính tốt trong cuộc sống (như Lý Ba Tri), cái đẹp trong thiên nhiên (Lý cây xanh) hoặc oán trách nhau (như Lý lu là) hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào (như Lý con chuột, Lý bình vôi, Lý con sam). Các chủ đề nhạc trong các điệu lý rất nhiều vẻ, dưới những hình thức rất độc đáo, nhưng lại rất quen thuộc với phong vị cổ truyền của quần chúng từ lâu đời.

Trong quá trình cải biên, bổ sung, dĩ nhiên có một số chủ đề trong các điệu lý được sáng tạo, nâng cao. Trong số ấy, chúng ta có thể lấy bài Ru con làm ví dụ. Từ bái Lý giao duyên của vùng Trị Thiên, bài Lý giao duyên của Nam Bộ đã tiến lên trong một quá trình hoàn chỉnh hơn dưới một tựa đề mới là Ru con. Đó cũng là một quy luật, một đặc điểm cần lưu ý khi nghiên cứu vốn dân gian cổ truyền để chúng ta phân biệt được tính giao lưu và tính bổ sung đổi mới luôn luôn của nó.

Lời bài hát Ru con, dân ca Nam Bộ:

Gió mùa thu... Mẹ ru con ngủ
Năm canh chầy thức đủ vừa năm
Hỡi chàng... chàng ơi!
Hỡi người... người ơi!
Em nhớ tới chàng... Em nhớ tới chàng!
Hãy nín! nín đi con!
Hãy ngủ! ngủ đi con!
Con hời... con hỡi...

Con hỡi... con hời... hỡi con!...

Toàn bộ nội dung của bài hát được diễn tả trong sáu câu. Chỉ với 6 câu thôi, nhưng cũng đủ để vẽ nên một "bức tranh âm thanh" tuyệt diệu:

..."Giữa một đêm thu tĩnh mịch... lắng nghe từng cơn gió lành lạnh nhẹ lướt ngoài khung cửa... người mẹ trẻ ấy... vừa ru con, vừa nghĩ đến người thương... vừa nghĩ đến người thương, vừa ru con!...". Âm điệu đơn giản, lời lẽ ngắn gọn, cô đọng đến mức không thể nào thêm được vào đấy một nốt hay một chữ nào nữa cả...

Sự kết hợp như hình với bóng của âm điệu và lời ca đã thúc đẩy thêm nhanh chóng sự gần gũi giữa hình tượng nghệ thuật và quần chúng. Có những lúc, chúng ta như nghe được cả những nức nở, nghẹn ngào... đang trào lên từng đợt, từng đợt như:

Hãy nín! nín đi con
Hãy ngủ! ngủ đi con!
Con hời.. con hỡi

Toàn bộ bài hát được kết thúc bằng một sự đóng lại thư thả trên đường nét đi xuống của giai điệu chậm rãi... nhỏ dần... và chấm dứt... nhưng chúng ta như vẫn còn thấy đọng lại đâu đây hình ảnh người thiếu phụ đêm thu... ru con ngủ..., hình ảnh của một sự đợi chờ... của một lòng sắt son chung thủy!

Chất liệu dân ca Nam Bộ đã được nhiều nhạc sĩ quen biết vận dụng vào những ca khúc hiện đại, và có nhiều ca khúc thành công. Trần Kiết Tường là một tác giả, ngay từ những ngày đầu Kháng chiến chống Pháp, đã có công nghiên cứu và khai thác các chất liệu cổ truyền trong dân ca Nam Bộ. Anh đã thể nghiệm cách áp dụng và xử lý chất liệu dân ca Nam Bộ qua nhiều tác phẩm, nhưng phải nói rằng, trong ca khúc Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người...

Anh đã thành công nhất qua tác phẩm này. Bắt nguồn từ âm điệu tổng hợp của các điệu hò quê hương, ang đã rút ra được cái nét đơn giản, mộc mạc, bình dị, nhưng lại sáng chói và phong phú trong phong cách xử lý và vận dụng kết hợp chặt chẽ giữa nội dung và hình thức. Anh đã biết thổi vào những hình tượng một hơi thở tràn đầy sinh khí ấm áp, quen thuộc như một mùi hương dìu dịu của đất trời Nam Bộ. Trong tất cả những thứ bề bộn, ngổn ngang này, anh đã biết chọn lọc và gạn ra được những nét điển hình, cô đọng, độc đáo, nhưng lại rất chung, mang sức khái quát cụ thể cho tính cách và yếu tố tâm lý của dân tộc, của địa phương mình. Khi chúng ta nghe những câu hát sau đây:

Tôi hát ngàn lời ca
Nồng nàn hơn nắng ban mai
Đẹp tình hơn cánh hoa mai, v.v...

Làm sao ta không liên tưởng đến phong cách đối tỉ như:

Nho nhỏ như ai... chứ còn nho nhỏ như em đây

(Trong hò Miền Đông)

hoặc:

... Tay cắt tay bao nỡ... ruột cắt ruột sao đành

(Trong hò Trà Vinh)

Hình ảnh Bác được tác giả kính cẩn, trang nghiêm đặt vào trong tim, trong máu của đồng bào Nam Bộ một cách sâu sắc, thâm trầm. Nó gợi một cái gì rất chân tình, rất bao la, phóng khoáng như những cánh cò bay dịu dàng trên nền trời xanh thẳm của quê hương Đồng Tháp.

Chất liệu của âm điệu không cầu kỳ, phức tạp hay vặn vẹo, đã thâm nhập một cách nhanh chóng vào trực giác một lượt với sự chuyển đưa hình tượng trong một nhịp điệu khoan thai, những lời ca mộc mạc, dễ hiểu vào nhận thức, nên ngay từ phút giây đầu đã hình thành được hệ thống thu nhận rung cảm và được nảy nở liên tục một cách tự nhiên thoải máu. Cái đáng lưu ý nhất là sự phát triển lô-gích tính chất nhất quán của toàn bài, dù rằng ở đoạn II, tác giả đã bắt đầu vận dụng sự tái hiện chủ đề có thay đổi, và chuyển dịch giọng điệu ở một quãng 4 trên.

Chính ở đây cũng là trận địa quyết định sự thất bại hay thành công trong việc áp dụng phát triển chất liệu dân ca vào một sáng tác mới. Trần Kiết Tường đã thành công, vì rằng anh đã biết vận dụng các quãng một cách linh động, không chói tai, tuy có sử dụng biến hóa bất thường đối với một số nốt như "xon" thăng, "đô" thăng, nhưng cái chủ yếu là ở cái nét chung, cái dáng dấp, cái hơi thở của tác phẩm, chứ không phải máy móc, đặt vai trò quyết định "tính dân tộc" vào cho một số biến hóa tạm thời. Như thế thì e rằng sẽ làm hỏng đi cái kho tàng quý báu của dân tộc hơn là kế thừa nó.

Bài hát Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người là một thành công tương đối rõ rệt nhất trong việc vận dụng và khai thác, xử lý vốn dân ca vào sáng tác được nhân dân cả nước ưa thích như: Bài ca may áo, Qua sông, Xuân chiến khu, Câu hò bên bờ Hiền Lương, Má thương ai nhứt? Cô gái Sài Gòn đi tải đạn, Người con gái đồng bằng sông Cửu Long, Gởi anh đi đầu quân, Lên ngàn... của các nhạc sỉ Xuân Hồng, Phạm Minh Tuấn, Hoàng Hiệp, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Thơ, Hương Loan, Huỳnh Thơ, Hoàng Việt, v.v... Bằng những phong cách riêng biệt, bút pháp độc đáo của mình, các nhạc sĩ kể trên đã góp công một cách đáng kể vào quá trình kế thừa, tiếp tục phát huy và nâng cao hơn nữa chất liệu quý báu cổ truyền của dân ca Nam Bộ đã được nhân dân từ thế hệ này sang thế hệ khác gìn giữ và nuôi dưỡng...

Dân ca là một mảnh đất trù phú, một kho tàng âm điệu vô tận, nơi tập trung của tất cả những nhân tố thể hiện trực tiếp nhất, sinh động nhất tính cách dân tộc của một địa phương hay một dân tộc nào đó. Và nền âm nhạc chuyên nghiệp với tất cả những hình thức phong phú muôn màu muôn vẻ của nó cũng đều bắt nguồn từ di sản dân tộc, từ vốn cổ truyền của thế hệ trước để lại. Vì thế, tìm hiểu được kho tàng quý báu ấy đã là một chuyện không dễ, nhưng cái khó hơn hết, cái quyết định hơn hết là cần phải biết gạn đụa, khơi trong, phải biết chọn lọc, lấy ra cái gì "tinh" nhất để phục vụ tốt cho cái hiện tại. Đó là vấn đề rất thiết yếu mà các nhạc sĩ nghiên cứu, sáng tác, biểu diễn, huấn luyện, không riêng cho một địa phương nào, đều nhận thấy trách nhiệm của mình trước nhân dân trong việc xây dựng một nền văn học nghệ thuật tiên tiến có tính chất dân tộc và tính nhân dân sâu sắc.
SƯU TẦM

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 09/05/2008 :  06:01:30  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
Những Giọng Hò miền Nam
Trần Văn Tám
============================

Hò là một trong những thể loại âm nhạc dân gian ở Miền Nam Việt Nam được du nhập bởi những đợt sóng di dân từ đất Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ðức, Quảng Nam và Quảng Ngãi) vô vùng đất mới phía cực Nam của đất nước vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17.

Hò có sức hấp dẫn và quyến rũ lạ thường. Người ta gây cuộc hò trong các vụ cấy trên đồng ruộng, hò đối đáp “đuổi” nhau trên sông rạch, hò thi bên cối xay lúa, hò tâm tình bên cối giả gạo, hò “bắt xác’ trong dịp cưới hỏi, mừng tân gia hoặc giỗ quảy…

Lời hò chứa đựng nội dung trữ tình, phản ánh những mối quan hệ trai gái, quan hệ hôn nhân và gia đình, đề cao cách đối nhân xử thế.

Hò trở thành một phong trào quần chúng, càng có nhiều người tham gia cuộc hò càng thêm rộn rả:

Hò chơi phỉ dạ hai đường,
Công anh ở trên băng rừng xuống đây.
Tới đây không lẽ ngồi không,
Cầm chày giả gạo cho đông miệng hò.


Gặp phải cô nàng nhút nhát thì chàng trai phải giải bày:


Hò ít câu có chi đâu mà sợ
Chiều hai đứa lên bờ anh trả căn nợ lại cho em.
Hò chơi hai gái hai trai
Thưa cùng cô bác đừng ai nghi ngờ.


Các cô e dè cũng có lý vì không phải là không có những anh chàng:


Tay cầm bó mạ rẽ hai
Miệng hò tay cấy cẳng xà lai…quèo nàng.


Trong dân gian, hò, đối đáp thường là ứng khẩu, ngẫu hứng. Bà con gọi là hò môi hò mép. Bên trai và bên gái luân phiên đối đáp, bên bắt, bên bỏ, bên buộc, bên mở. Nếu “kẹt” thì tung ra những câu hò gỡ gạc:


Câu hò tôi đựng một khạp da bò
Ðến khi hò cuộc tôi mò không ra.
Câu hò tôi đựng một bầu
Ngủ đêm đến sáng nó rầu nó đi.
Câu hò tôi đựng trong lu,
Tới khi hò cuộc tôi chổng khu mò hoài.


Hò huê tình (nhiều người gọi không đúng là hò sông Hậu) vốn phổ biến từ Ðồng Nai xuống miền Cà Mau, ra tận đảo Phú Quốc. Lối hò này bình dị, dễ hò, nốt nhạc lượn trên thang bốn âm (re, fa, sol, la).

Hò cấy: Ở khắp miền Nam có hàng chục giọng hò cấy khác nhau. Hò cấy kiểu nào cũng đều phải trải qua ba chặng hò:


Chặng một là hò rao, hò dạo, hò thăm hỏi, hò chào mời.

Có một anh chàng từ xa đến, lạ nước lạ cái, bị bao quanh gần một tiểu đội hoa khôi trong một vạn cấy. Anh ta bèn “nịnh đầm” tía lia như vầy:


Tôi chào cô Hai như sao mai rạng mọc
Tôi chào cô Ba như hạt ngọc lung linh.
Tôi chào cô Tư như thủy tinh trong vắt.
Tôi chào cô Năm như hương ngát bông lan.
Tôi chào cô Sáu như hào quang lóng lánh
Tôi chào cô Bảy như cuốn sách chạm bìa vàng.
Tôi chào cô Tám như hai làng liễu cẩn.
Chào cô Chín như rồng ẩn mây xanh
Chào cô Mười như chim oanh uốn lưỡi trên cành.
Chào rồi tôi chụp hỏi rành rành
Hỏi căn cơ hà xứ phụ mẫu cùng huynh đệ thiểu đa
Hỏi cho biết cửa biết nhà
Nhờ ông mai tới nói, nay tới chết tôi cũng quyết giao hòa với một cô.


Chặng hai là hò đối đáp, hò kết bạn, hò xe duyên. Ðây là giai đoạn chính của cuộc hò. Không khí lúc này trở nên sôi nổi, gây cấn.

Bên gái đố:


Chữ gì chôn dưới đất
Chữ gì mang không có nổi
Chữ gì gió thổi không có bay?
Trai như anh mà đối đặng thì em ngửa bàn tay cho ngồi.


Anh chàng không phải là tay tầm thường, đáp liền:


Chữ thọ đường chôn dưới đất
Còn chữ hiếu cất trên trang
Chữ tình mang không có nổi
Còn cái chữ tạc đá bia vàng gió thổi không có bay…
Anh đà đối đặng, vậy em hãy ngữa bàn tay cho anh… ngồi!


Cô nàng vẫn chưa chịu thua đổi đề tài:


Hò ơ… con trâu già kén cỏ, còn con bò nhỏ kén rơm.
Anh đừng chê em ốm yếu lưng tôm.
Ði kiếm nơi cho mập đặng anh ôm phỉ tình.


Anh chàng “lí lắc” không kém:


Hò ơ… Em đừng chê anh nhỏ thó mà anh buồn tình.
Vậy chớ con thằn lằn kia bao lớn mà nó ôm cột đình cũng sát đeo!
Hò ơ… Em chớ thấy anh nhỏ thó mà anh rầu.
Vậy chớ con ong kia bao lớn nó chính trái bầu cũng phải teo.


Chặng ba là hò giã biệt, hò tiễn bạn, hò hẹn:


Trưa mười hai giờ
Nàng với tôi bước cẵng lên bờ
Mặt đối mặt tôi giã từ
Lòng khăng khăng rưng rưng nước mắt
Ðây nhìn đó dạ sầu phủ mặt
Ðó nhìn đây lòng nọ ai bi.
Có thương nhau thì xin nhớ mảnh tình si nơi này.


Chia tay làm sao không bịn rịn, phải chi:


Ve kêu réo rắt đầu truông
Liệu bề thương đặng thương luôn cho tới già.


Trong các phong cách hò thì có hò nhơn đạo và hò ngạnh trê.

Hò nhơn đạo là hò sành điệu nghệ. Chẵng những điệu hò phải hấp dẫn, lôi cuốn mà lời hò cũng phải mang ý nghĩa lành mạnh:


Hò nhơn đạo chớ không phải hò gạo hò tiền
Ðó có thuốc ngon xin cho một điếu, không phải vì ghiền tôi xin.


Trái lại, có nơi có lúc hai bên trai gái đối đáp đến độ đỏ mặt tía tai, dùng những câu hò xốc hông khiến đối phương nhức nhối như bị ngạnh cá trê đâm phải (hò ngạnh trê):

Mới gặp gái mà đã chọc ghẹo:


Nước Tân Ba chảy qua Vàm Cú,
Thấy bộ em chèo cặp vú muốn hun.


Cô nàng tức khí:


Anh muốn hun vậy mà cũng khó
Anh trở về bắt … chó anh hun.


Chàng trai tự ái khiêu khích:


Nắm tay em, anh hỏi có ngằn
Từ nhỏ tới lớn có đãi đằng ai chưa?


Cô nàng không chịu thua, “ngạnh trê” liền:


Thân em như thể trái dừa,
Ðãi người trên trước, cặn thừa đãi anh.



Từ lâu có người cho rằng ở chỉ có hai lối hò tiêu biểu: hò Ðồng Tháp và hò Sông Hậu. Thực tế thì có trên vài chục lối hò như: hò mái cụt, hò mái dài, hò mái ba, hò mái ố, hò chèo ghe, hò cấy, hò mái ố, hò chèo ghe, hò cấy, hò ố ả, hò í á, hò khoan, hò giọng đồng, hò hơ, hò lơ, hò thơ, hò xay lúa, hò giã gạo, hò thẻ mực, hò cống chùa, hò bản đờn, hò ống, hò đưa linh v…v…

Ðặc biệt hò mái dài Mõ Cày (Bến Tre) không giống hò mái Thốt Nốt (Hậu Giang), lại càng xa lạ với hò mái dài Ðức Hòa (Long An). Có thể nói hò cấy rất phong phú , là đặc sản của một vùng nhất định. Hò cấy sông Bé, hò cấy Bến Tre, hò cấy Cửu Long, hò cấy Hậu Giang, hò cấy Kiên Giang đều mang dáng dấp riêng, không thể coi là những dị bản. Ở Hậu Giang, bà con có thể phân biệt đươc 3 loại hò cấy ở Mỹ Tú, Long Mỹ và Phụng Hiệp. Tại Tân Uyên, sông Bé có loại hò cấy nổi tiếng chẳng giống ở bất cứ nơi nào về làn điệu (dù lời hò có thể trùng).


Hò ơ ớ… ruông gò anh cấy lúa Nàng Co
Em thương anh thì thương đại đừng để anh gò mất công!(Yêu mà cũng làm biếng)


Ruộng gò anh cấy lúa Nàng Xe
Anh thấy em còn nhỏ anh ve để dành
(Yêu mà cũng biết lo xa)


Từ lâu Bến Cát là nơi sản sinh những người thợ cấy giỏi, những giọng hò vang bóng một thời:


Bên hữu con thiên lý mã, bên tả con vạn lý vân
Hai bên nhắm cũng cân phân
Mà lòng anh muốn cỡi một lần hai con.


Ngoài ra còn một hình thức diễn xướng hết sức thú vị vốn được lưu hành từ Bắc chí Nam: đó là loại hò ống (hay hát ống). Theo lời kể của nhiều nghệ sĩ xưa thì tại đất sông Bé (Thủ Dầu Một, Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát) đã từng thịnh hành hình thức này. Cứ mỗi đêm trăng thanh gió mát, trai gái rủ nhau ra đồng hò hát đối đáp. Người đối hò hát qua ống tre, một đầu ống được bịt giấy quyến (giấy quấn thuốc rê) hoặc da ếch, bao tử heo, nối bằng sợi chỉ dài với ống tre cho người nghe như điện thoại bây giờ:


Hò quăn hò quíu
Hò trong ống điếu hò ra
Hò cho tuyệt diệu bớ điệu chung tình
Con nhạn bay cao khó bắn
Có cá ở ao huỳnh lại khó câu.


Hình thức hát ống này cũng thấy lưu truyền lâu đời trong sinh hoạt âm nhạc dân gian của người Chàm ở Thuận Hải. Và tận đất tổ Hùng Vương (Vĩnh Phú) “lại có hình thức hát ví thật là kỳ lạ: người hát ngồi trong nhà hát đối đáp qua một ống tre bịt da ếch và nối ống của người kia bằng một sợi chỉ dài như một chiếc telephone cổ xưa vậy. Tuy nhiên cuộc hát không vì thế mà kém vẻ hấp dẫn lôi cuốn.

Ðã từ lâu, không ít người cho rằng hình thể đất đai ở miền Nam làm “ruộng đồng cò bay thẳng cánh” sông rạch chằng chịt nên các điệu hò miền Nam mang âm hưởng an nhàn thư thái, trải rộng triền miên, ít có tiết tấu khỏe khoắn, mạnh mẽ. Ðiều nầy có phần đúng, nhưng chưa đủ! Nếu ta chèo ghe, bơi xuống lai rai trên cánh đồng Tháp Mười mùa nước nổi hoặc thả chèo xuôi theo con nước lớn ròng trên những sông rạch kinh xáng… thì tội gì phải lấy hết gân cốt để “hò hụi” cho mệt xác! Ở đây không có thác ghềnh chảy xiết, ít thấy cảnh sinh hoạt lao động kéo bè,kéo gỗ… nên khó sản sinh nhưng lới hò dồ஠dập, vạm vỡ nhằm huy động sức lực theo chu kỳ để nâng, để kéo ,để khiêng một vật gì đi vượt qua chướng ngại. Còn cấy lúa là một công việc tuy thấy nhẹ nhàng, nhưng lập đi lập lại cùng động tác mãi rồi cũng đâm ra nặng nhọc và uể oải dưới sức nắng chói chang, nên bà con hò lơ để giải khuây, để giao lưu tình cảnh, nhằm quên đi nỗi nhọc nhằn mỏi tay, mỏi chân, đau lưng vì phải khòm cả ngày cho lao tác. Cho nên hò cấy không phải là hò tập thể có tiết tấu gãy gọn, dồn dập để điều khiển hàng chục tay cấy một cách máy móc. Chủ ruộng thường hay gây cuộc hò để khuyến khích bà con cấy chậm mà sâu và thẳng lối.

Hò có nhịp điệu thôi thúc như hò xay lúa (còn gọi là hò giằng) của Gò Công; uyển chuyển như hò cổng chùa, hò bản đờn, hò lơ, khoan thai như hò í á hò khoan, của Bình Chánh, nhịp nhàng như hò giã gạo của Chơn Thành; sôi động như hò thơ của Ðức Hòa; khỏe mạnh như hò thẻ mực của Kiên Giang v…v… Ðặc biệt hò giã gạo (Sông Bé) và hò thơ (Long An) đều theo nhịp 6/8. Hò xay lúa Gò Công có 2 loại, mỗi loại đều lệ thuộc hoàn cảnh sinh hoạt và mục đích diễn xướng. Nếu có nhiều xay lúa thi nhau thì sử dụng loại hò giằng cối xay đến chóng mặt. Càng cối xay thì kéo về phía ngực phải ăn khớp với nhịp mạnh của câu hò, nếu không thì thua cuộc.

Xay lúa xong trai gái kéo nhau về nhà, chỉ còn lại một cặp vốn có tình ý với nhau trước. Bấy giờ nếu không còn lúa thì đổ trấu vô cối mà xay vậy! Mục đích của đôi trai gái nầy là để tỏ tình giao duyên nhân ngãi. Mà xay trấu là cái cớ cho họ gần gũi nhau thì dại gì mà hò giằng cối xay cho đổ mồ hôi mất hứng! Vì vậy mà họ rỉ rả hò đối đáp nhau một cách khoan thai, ung dung, mùi mẫn.

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page

tieuboingoan
Administrator

451 Posts

Posted - 09/05/2008 :  06:05:43  Show Profile  Visit tieuboingoan's Homepage  Reply with Quote
ĐIỆU HÒ CÂU HÁT MIỀN NAM
Xuân Tước

Ở miền Bắc Việt Nam, ca dao được sưu tập và phân loại rất chu đáo. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc với bộ Tục Ngữ Phong Dao đã làm công việc này một cách có quy cũ, giúp ích nhiều cho người nghiên cứu. Ở miền Nam trước đây, ông Đào Văn Hội cũng có xuất bản tập sách về ca dao, nhan đề là Hương Hoa Đất Nước, tuy giá trị nhưng không phổ biến bằng.


Như ta đã biết, tổ tiên ông bà người miền Nam là những phiêu bạt từ phương Bắc vào, dừng chân nơi đất Thuận Quảng rồi vào tận đồng bằng sông Cửu Long ở cực Nam của đất nước. Trong khi di dân lập ấp, khai khẩn đất hoang, tiền nhân đã sản sinh ra nhiều làn điệu ca dao, dân ca phong phú, có hình thức cùng giá trị độc đáo riêng. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin phác qua vài nét...

* TIẾNG HÒ CÂU HÁT TRONG SINH HOẠT HÀNG NGÀY

Xã hội miền Nam nặng về nông nghiệp. Cuộc sống chậm chạp, êm đềm. Chỉ khi đi cày, đi gặt, khi đập lúa dưới trăng... sinh hoạt miền Nam mới trở thành nhộn nhịp. Những câu hò, câu hát vang lên.

Người ta đối đáp nhau để bày tỏ niềm vui khi lúa chín đầy đồng:

Hò chơi cho trọn buổi chiều,
Keo sơn quấn chặt, sợi chỉ điều se săn.

Khi đôi mắt cùng liếc, đôi lòng cùng ưa:

Thò tay mà ngắt ngọn ngò,
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

Thế nhưng khi duyên nợ không thành, thì câu hát đổi thành lời trách cứ nhẹ nhàng:

Hò ơ... cúc mọc bờ sông kêu là cúc thủy,
Chợ Sài Gòn xa, chợ Mỹ cũng xa.
Chồng gần không lấy, em lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng ơ...

Ngoài việc diễn tả tâm tình, tiếng hò câu hò miền Nam còn để mô tả phong tục:

Con chim chìa vôi bay qua đám thuốc,
Con cá bãi trầu lội tuốt mương cau.
(Tục ăn trầu)

Gió đưa gió đẩy bông trang,
Bông búp về nàng, bông nở về anh.

Khi làm đám hỏi thì anh phải đi đôi bông búp vì cô gái còn ở “nhà nàng”. Nhưng đến ngày lễ cưới, chàng trai phải đi một đôi bông nở vì lúc đó em đã về ở “nhà anh”.
Hoặc để dạy những điều luân lý đơn sơ:

Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.

Hay:

Anh bảy đen, đồng bạc trắng,
Em ham chi đồng bạc con cò
Đêm nằm với nó đen mò như cục than!

Nghệ thuật ca hát dân gian này rất được ưa chuộng ở miền Nam. Nó có sức hấp dẫn lạ thường. Chúng tôi xin tạm phân làm ba loại hò: Hò trên cạn, hò trên sông nước và hò giao duyên hay đối đáp.

- Hò trên cạn:

Người ta hò trên cạn, khi cấy lúa, gặt hái hoặc đôi khi chỉ nhằm vui chơi giải trí. Đến mùa cấy, tiếng hò vang vang trên đồng từ tinh mơ đến chạng vạng tối. Nhiều cặp trai gái vì mê giọng hò của nhau mà kết thành chồng vợ. Các loại hò trên cạn này rất đa dạng và phong phú. Ta có thể kể hò cấy, hò giọng đồng, hò bản đờn, hò cống chùa v.v...

* Hò cấy:
Ơ ơ hò ơ ớ...
Kiến bất thủ như tầm thiên lý,
Thương không thương (ờ) tự ý của nàng.
Chớ đừng như (ờ) con Đắc Kỷ (ờ) mà theo (ơ) phò Trụ Vương (ơ)...
Ớ ớ hò ơ ớ...
Phụ mẫu anh đánh quằn đánh quại, đem anh ra (ờ) treo tại nhành dương (ơ)...
Ớ hò ơ ớ...
Phụ mẫu của anh biểu anh từ ai (ờ) anh từ đặng (ơ)
mà biểu từ người thương thì anh không có (ơ) đành...

* Hò giọng đồng:
Ớ... ngọn bù rầy ngọn dài ngọn vắn,
Cải tần ô ngã dọc ngã ngang.
Trái dưa gang sọc trắng sọc (ơ) vàng (ừ)
Cọng rau đắng trong trắng ngoài xanh.
Công anh đắp rẫy bồi (ơ) thành (ờ),
Trồng cây dưỡng trái (mà) để (ơ ơ) dành ai (ờ) ăn (ơ)...

Hò bản đờn: mô phỏng các tiếng đàn dân tộc, vui nhộn, nhịp nhanh:

Em thương anh hổng biết thì để đâu nè!
Ú liu phàn,
Để trong mà họng súng nè,
Ú liu phàn,
Lâu lâu em bóp cò, bắn cái rầm.

* Hò cống chùa: nhanh, vui, mô phỏng tiếng tụng niệm kinh kệ của thầy chùa.
Khoai lang lột vỏ chặt bỏ từ hai đầu nè!
Nam mô phù!
Có chồng mà thầy thuốc nè!
Nam mô phù!
Hôi mùi xạ hương!
Nam mô phù, địa tạng du...
- Hò trên sông nước:
Miền Nam sông sâu nước chảy, kinh rạch chằng chịt nên những sinh hoạt trên sông nước rất phát triển. Từ đó phát xuất những điệu hò như hò chèo ghe, hò mái trường, hò mái đoản, v.v...
Tàu xúp lê một anh còn mong đợi
Tàu xúp lê hai anh than vắn thở dài.
Tàu xúp lê ba tàu ra biển bắc
Vịn song sắt nước mắt nhỏ bên (ơ ớ) đông...
Mở miệng kêu bớ chú tài công,
Chớ chú ôi làm chi cho phân vợ rẽ chồng (ơ) đêm năm canh...
- Hò giao duyên:
Rất được phổ biến và ưa chuộng. Trai gái mê nhau qua giọng hò mùi mẫn, tài ứng đối nhanh nhẹn, đồng thời cảm hóa nhau về đức hạnh, tính nết và sự cần cù. Loại hò này chia làm ba chặng diễn xướng. Chặng một là hò rao, hò dạo để tìm hiểu đối phương. Lời hò khiêm nhượng, từ tốn. Chặng thứ hai là hò đố, hò kết bạn, hò se duyên. Đây là giai đoạn chính của cuộc hò, rất sôi nổi, hồi hộp và hết sức hào hứng. Chặng ba là hò giã từ, hẹn nhau trong mùa cấy khác.
Xin hãy nghe một cậu trai tỏ tình:

Hò ơ...
Bạc với vàng con đen, con đỏ.
Đôi đứa mình còn nhỏ thương nhiều.
Vừa nghe tiếng em là anh muốn như anh Kim Trọng,
Anh Kim Trọng thương chị Thúy Kiều thuở xưa ơ...

Cô gái đáp lại ngay:

Hò ơ...
Ớ người không quen ơi,
Nghe anh, em cũng muốn thương nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ...
Hoa đà có chủ..
Cũng khó chiều dạ anh (ơ)...

Dễ gì chịu rút lui, chàng trai hò tiếp:

Hò ơ...
Chim kia còn thỏ thẻ trên cành
Nghe em nói vậy,
Dạ không đành rẽ phân (ơ)...

Cô gái tỏ ra phân vân:

Hò ơ...
Bình bồng giữa chốn giang tân,
Bên tình bên nghĩa ờ...
Bên tình bên nghĩa,
Biết thân bên nào?

Cậu trai được thế, nhào vô:

Hò ớ ơ... em ơi,
Nhứt lê, nhì lựu, tam đào.
Bên tình bên nghĩa...
Bên nào cũng đồng thân.

Thấy chàng trai có vẻ “xôm vô”, cô gái liền làm cao:

Hò ơ...
Nói mà chơi vậy chớ,
Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu,
Anh đừng bận bịu, bớ điệu chung tình.
Con nhạn bay cao khó bắn,
Mà con cá ở ao quỳnh cũng khó câu ơ...

Bị thách thức, chàng trai đâu dễ chịu thua:

Hò ơ...
Ớ nầy em hai ơi, hãy nghe cho kỹ,
Xưa nay gái không cưới chồng, trai không ở giá.
Anh đoái thương nàng xinh đã quá xinh
Buông lời cất tiếng nỉ non,
Nếu như nàng lo việc cháu con,
Sao không kiếm chốn trao thân gởi thế?
Trên đời bá công bá nghệ, dưới lại là tứ thứ tứ dân.
Làm người sao khỏi chữ lương nhân,
Mà nàng đành chịu để phòng không chiếc bóng?
Sách có chữ: phụ nhân nan hóa, ít kẻ yêu vì,
Nên lấy chồng phải luận phải suy,
Phải xem trong lóng đục.
Đây đã đến thời, phải lúc,
Hay nàng còn cúc dục cù lao?
Hơ... ơ... để anh ngơ ngẩn ra vào,
Thầm yêu trộm nhớ, dạ nào bỏ anh ơ...

Anh chàng hí hửng tưởng mình đã ở thế thượng phong, nhưng cô nàng đáp lại ngay:

Hò ơ...
Ớ nầy anh nó ơi,
Phận em giao phó cho trời xanh,
Lấy anh thì em không lấy,
nhưng cũng không đành làm ngơ...
Hò ơ...
Vốn em cũng chẳng bơ thờ,
Em đã từng chọn trong lóng đục,
nhưng vẫn còn ngờ nợ duyên...
Hò ơ...
Vốn em cũng muốn lấy ông thày thuốc cho giàu sang,
nhưng em lại sợ ổng hay gia hay giảm
Em cũng muốn lấy ông thầy pháp cho ra đám,
nhưng sợ ổng hét la ghê gốc.
Em muốn lấy chú thợ mộc,
nhưng sợ chú hay đục khoét rầy rà.
Em muốn lấy ông thợ cưa cho thật thà,
nhưng lại sợ trên tàn dưới mạt.
Em muốn lấy người hạ bạc,
nhưng lại sợ mang lưới mang chài.
Em muốn lấy anh cuốc đất trồng khoai,
nhưng lại sợ ảnh hay đào hay bới.
Em cũng muốn chọn anh thợ rèn kết ngỡi,
nhưng sợ ảnh hay nói tức nói êm.
Em muốn lấy anh đặt rượu làm men,
nhưng lại sợ ảnh hay cà riềng cà tỏi.
Em muốn lấy ông nhạc công cho giỏi,
nhưng sợ ổng hay giọng quyển giọng kèn.
Em muốn lấy thằng chăn trâu cho hèn,
nhưng lại sợ nó nhiều điều thá, ví.
Em muốn lấy ông lái buôn thành thị,
nhưng sợ ổng kêu rêu mắc rẻ khó lòng.
Em muốn lấy anh thợ đóng cột, đóng thùng,
nhưng sợ ảnh hay trật niềng, trật ngõng.
Em muốn lấy ông hương, ông tổng,
nhưng lại ghê việc chống, việc gông.
Em muốn lấy anh hàng gánh tay không,
nhưng lại sợ đầu treo, đầu quảy.
Em muốn lấy anh thợ đát, thợ đan,
nhưng sợ ảnh hay bắt phải, bắt lỗi.
Em muốn lấy anh kép hát bội,
nhưng lại sợ giọng rỗi, giọng tuồng.
Em muốn lấy anh thợ đóng xuồng,
nhưng sợ ảnh hay dằn, hay thúc.
Hò ơ... Mấy lời trong đục,
chẳng dám nói ra.
Có thày giáo tập dạy ở làng ta,
hay khuyên hay điểm,
hay dạy, hay răn.
So đức hạnh ai bằng,
Lại con nhà văn học,
Sử kinh thày thường đọc,
biết việc thánh hiền.
Hò ơ...
Gặp nhau em kết nghĩa liền,
Không chờ chẳng đợi,
cho phỉ nguyền phụng loan ơ...

Nghe phân giải rõ ràng, chàng trai chẳng còn cách nào khác hơn là im lặng tôn trọng quyết định của nàng.

* NHỮNG CÂU HÁT RU EM
Hát ru em, hát đưa em, hát ầu ơ là một loại hát ru phổ biến rộng rãi từ thành thị đến nông thôn. Vào những buổi trưa vắng lặng, những đêm khuya yên tĩnh, những sáng sớm tinh mơ... cùng với tiếng võng đưa kẽo kẹt, giọng hát sầu ơ dịu dàng, vỗ về trìu mến của bà, của mẹ, của chị đã vang mãi trong lòng đứa trẻ từ ấu thơ đến tuổi trưởng thành.
Trong khi hát, người phụ nữ đã gửi gắm tâm sự mình. Hoặc than thân trách phận vì bị chồng phụ bạc:

Ầu ơ... ớ...
Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Gió nào độc bằng gió Gò Công.
Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng,
Đêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.

Hoặc giãi bày niềm chua xót cho tình duyên lận đận lao đao:

Ơ ầu ơ...
Cây da tróc gốc thợ mộc đang cưa,
Anh với em tuổi tác đã vừa,
Tại cha với mẹ kén lừa xui gia...

Cũng có khi nó chỉ là những điều phổ thông:

Ví dầu cá bống hai hang,
Cá trê hai ngạnh, tôm càng hai râu.

Những bài học luân lý đơn giản:

Chim quyên hút nhụy bông quỳ,
Trời Nam lục tỉnh thiếu gì gái khôn.
Con gái khôn lấy nhằm chồng dại,
Bứt bông hoa lài cặm bãi cứt trâu!


* NHỮNG BIẾN THỂ CỦA CA DAO MIỀN NAM
Ngoài những điệu hò câu hát, ca dao miền Nam còn có những hình thức ca hát biến thiên theo sinh hoạt nông thôn như hát sắc bùa, hát lô tô, nói thơ, nói vè.
Hát sắc bùa là loại âm nhạc nằm giữa truyền thống dân gian và chuyên nghiệp, chủ yếu sinh hoạt vào dịp Tết để chúc tụng. Mỗi nhóm hát sắc bùa có từ 4 đến 6 người, vừa hát vừa sử dụng trống cơm, sanh tiền và đờn cò. Vào khoảng 28 Tết, họ đi theo dọc đường, thấy nhà hào phú nào mở cửa ngỏ thì vào dán lá bùa nơi cửa, rồi nổi trống phách lên hát mừng để nhận tiền thưởng. Tùy theo nghề nghiệp của gia chủ mà họ hát bài thích hợp. Sau đây là bài Chúc Nghề Làm Ruộng:

Làm ruộng! Làm ruộng!
Gặp trời mưa xuống,
Gieo mạ đã xong.
Bắt trâu dực nông,
Cày cho đất bả.
Kêu công nhổ mạ,
Lại cấy cho dày,
Lúa tốt thấy da,
Một bông bảy nhánh,
Gặt dư muôn ngân,
Bán cho đặng giá,
Năm mới giàu sang,
Gia quan tấn lộc.

Trừ tà trục quỉ thì có ông thầy pháp với những bài thần chú:

Thần kim phục vong,
Kiết mẹ chằng tinh
Cư hải động oai cường,
Chức thông biến hóa.
Đã nên tài thái cả,
Phải một mặt oai linh.
Bữa bà ăn ba động yêu tinh,
Khát nước uống sơn khê suối cạn... a...

Tết đến thì tiếng hát lô tô vang vang xóm trên xóm dưới, thu hút đám trẻ con chạy đến:

Đường Vương bị vây
Tại Mộc Dương thành.
Quan quân thất kinh,
Giảo Kim viện binh,
La Thông tảo Bắc,
Đánh gắt chị Đồ Lư,
Số 4 dư...

Rồi người ta lại nghe những bài vè, hoặc để kể sự vật hoặc để tỏ thái độ phê phán hay biểu dương.
Loại vè kể vật hay việc, ta có vè hoa, vè trái, vè chim, vè thú...:

Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè trái cây,
Dây ở trên mây,
Là trái đậu rồng,
Có vợ có chồng,
Là trái đu đủ,
Chặt ra nhiều mủ,
Là trái mít ướt,
Hình tựa gà xước,
Vốn thật trái thơm,
...
Có cả vè nói ngược:

Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè nói ngược,
Ngựa đua dưới nước,
Tàu chạy trên bờ,
Lên núi đặt lờ,
Xuống sông bửa củi
Gà cồ hay ủi
Heo nái hay bươi,
...
Nhưng phổ thông nhất, mục đích chính của vè là phê phán, truyền đi những tin tức thời sự nóng hổi, những giai thoại hoặc những gì liên quan đến thuần phong mỹ tục:

VÈ HƯƠNG QUẢN RỚT
Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè Quản Rớt,
Mặt tuồng ăn ớt,
Làm bộ hơi lanh,
Nghe hơi tiêu hành,
Lò mò đi tới.
Làm tuồng khách quới,
Mà chẳng ai ưa,
Uống rượu say sưa,
Tiền không nhứt điếu.
Bây giờ mới hiểu,
Là đứa bãi buôi,
Làm chức lôi thôi,
Là Hương Quản Rớt.

Một hình thức khác của ca dao là nói thơ. Lối nói thơ có lẽ chỉ mới xuất hiện ở miền Nam vào khoảng cuối thế kỷ 19 nhưng có sức hấp dẫn lạ kỳ, phản ánh những sự kiện có thực trong xã hội, chẳng hạn Thơ Thầy Thông Chánh, Thơ Sáu Trọng, Thơ Hai Miêng...

THƠ THẦY THÔNG CHÁNH
Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra
Chép làm một bổn để mà coi chơi.
Trà Vinh nhiều kẻ kỳ tài,
Có thầy Thông Chánh thiệt người khôn ngoan,
Đêm nằm nát một lá gan.
Oán cừu biện lý không an trong lòng.
Chừng nào rõ đặng đục trong,
Giết đặng Biện Lý thì tôi mới đành.
...

Nguồn: Làng Văn

www.cafesangtao.vn
www.my.opera.com/tieuboingoan
Go to Top of Page
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06