Ca Dao Tục Ngữ
Ca Dao Tục Ngữ
Home | Profile | Register | Active Topics | Members | Search | FAQ
Username:
Password:
Save Password
Forgot your Password?

 All Forums
 Chữ Nôm
 Lịch Sử Hình Thành
 Thời Điểm Chính Xác
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Author Topic  

admin
Forum Admin

USA
135 Posts

Posted - 01/23/2006 :  21:20:07  Show Profile  Visit admin's Homepage  Reply with Quote
Khó xác định được thời điểm chính xác sự xuất hiện của chữ Nôm

(Hoàng Lâm - VTV2)
---------------------------------------------------------------------

Trải qua những phát hiện từ các cuộc khai quật, tìm tòi, các nhà nghiên cứu cho rằng thật khó xác định được thời điểm chính xác sự xuất hiện của chữ Nôm.

Những phát hiện lẻ tẻ về dấu vết của loại văn tự này không chỉ tập trung vào một nơi hay một thời kỳ nhất định. Điều đặc biệt là những con chữ Nôm đầu tiên ấy xuất hiện lác đác cả trong những văn bản chữ Hán, vì vậy có thể khẳng định rằng chữ Nôm đã góp mặt tương đối sớm, ngay từ khi mới có hiện tượng tạo ra hệ thống mà không cần chờ tới khi hoàn thiện tất cả hệ thống. Cứ như vậy, các văn bản chữ Nôm dần được tìm thấy ở nhiều nơi.

Vậy tại sao những nhân sĩ đầu tiên tạo ra chữ viết Nôm lại phải dựa vào cách sử dụng những con chữ vuông của người Hán để làm nguyên liệu. Có thể thấy, tiếng Việt từ xa xưa sử dụng trong đời sống sinh hoạt và giao tiếp của các cư dân bản địa cũng có những đặc điểm giống như tiếng Hán, đó đều là những ngôn ngữ đơn lập âm tiết. Và do đó, việc đi theo con đường tạo chữ theo như của người Hán lúc bấy giờ được coi là một lựa chọn chính xác nhất. Vậy nguyên tắc tạo thành chữ Nôm của người Việt từ chữ Hán được dựa trên những phương pháp nào? Đầu tiên là phương pháp giả tá, sử dụng chính chữ Hán gần âm để ghi âm Việt, ví dụ: Một con chữ trong âm Hán nghĩa là học thì được dùng để ghi âm hóc trong tiếng Việt. Nhưng biện pháp này sẽ khó phân biệt với những từ đồng âm khác thanh điệu hoặc phụ âm. Ví dụ: muốn viết chữ hiếm trong âm Việt, người ta dựa vào chữ âm Hán là kiếm, và để phân biệt người ta thêm một dấu nháy. Ở phương pháp hình thanh, người ta sử dụng cách làm cụ thể hơn, ở đó có hai bộ phận là chỉ nghĩa và chỉ âm để cấu thành, ví dụ: chữ hải đóng vai trò chỉ âm, còn chữ khẩu dùng chỉ nghĩa để cấu tạo thành chữ hỏi của tiếng Việt. Phương pháp hội ý thì chọn hai chữ để tạo nên nghĩa, ví dụ: chữ thiên nghĩa là trời cùng với chữ thượng nghĩa là ở bên trên, kết hợp làm rõ nghĩa cho âm trời trong tiếng Việt. Phương thức hội âm dùng cho trường hợp phụ âm kép trong tiếng Việt cổ, ví dụ: chữ sang nghĩa là giàu được người Việt xưa đọc là Clang. Muốn tạo thành chữ đọc âm đó phải có 2 chữ ghi âm là cư và lang, từ hai chữ đó hình thành nên chữ Nôm đọc là Clang với nghĩa là sang.

Với những thành tựu dần tạo dựng được trong việc tạo chữ viết cho việc phát âm tiếng Việt, cách ghi chép chữ Nôm với nhiều phương pháp dần đạt đến sự chuẩn mực hơn. Từ đó, chữ Nôm đã thu hút sự chú ý đặc biệt của người dân Việt Nam, và nó đã được phát tán rộng rãi khắp nơi. Thời gian trôi đi, chữ Nôm dần dần có mặt trong đầy đủ những hoạt động thường ngày của người Việt. Từ những tập quán sinh hoạt cho tới những kinh nghiệm trong lao động để lại từ xa xưa đều được ghi chép lại bằng những văn bản chữ Nôm. Bên cạnh đó, với những giá trị được hình thành từ lâu trong kho tàng văn hoá dân gian, chữ Nôm lại có được một không gian hoạt động tốt nhất. Những kinh nghiệm làm nông, những làn điệu dân ca, những câu ca dao của dân tộc đều có sự góp mặt của hệ thống văn bản Nôm. Từ trong đời sống thường ngày cho tới những sáng tác của những học sĩ, các văn bản Nôm cứ thế xuất hiện liên tục trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cư dân người Việt bên cạnh việc tuân theo những chính sách của Nhà nước bằng chữ Hán thì đã làm quen với những tác phẩm văn học Nôm, những tác phẩm ấy rất gần với cuộc sống thường ngày của họ. Bên cạnh đó, sau khi giành được độc lập từ năm 938, kho tàng văn hoá dân gian tộc Việt lúc đó có một bước biến chuyển tốt theo một hướng riêng của mình. Cùng với đó là các giá trị văn hoá tiếp nhận được từ thời kỳ Bắc thuộc đã làm phong phú hơn sự tích luỹ ấy. Sự phát triển, hoàn thiện không ngừng của hệ thống chữ Nôm đã làm cho nền văn học nước nhà có được một giai đoạn tiến lên hết sức phong phú. Điều đặc biệt là chữ Nôm rất phù hợp với những tác phẩm thơ của người Việt.

Thế kỷ 13 được coi là cái mốc phát triển của nền văn hoá Việt và cũng là mốc phát triển của riêng chữ Nôm. Lúc này đây, những tác phẩm thơ và văn Nôm đã đi vào cuộc sống của những cư dân nơi này như một phần không thể thiếu. Sự hoàn thiện tương đối của chữ Nôm đã cho phép đáp ứng hầu như tất cả những nhu cầu từ ghi chép cho tới sáng tác của các văn sĩ người Việt. Những tác phẩm được sáng tác bằng chữ Nôm hay chuyển thể từ Hán qua Nôm trên nhiều phương diện khác nhau đã liên tục ra đời. Lúc bấy giờ, nhiều học giả Trung Quốc có dịp tiếp xúc với nền văn hoá Việt đã không khỏi ngạc nhiên về sự phát triển đó, những phát triển mà chữ Nôm có vai trò đáng kể. Những thành tựu trên phương diện văn hoá đó không chỉ gây nên sự ngạc nhiên cho các nước láng giềng mà nó còn thu hút sự chú ý từ những nền văn minh từ xa tới. Thế kỷ 13 đánh dấu sự khám phá của các nước phương Tây đối với khu vực Viễn Đông đầy bí ẩn. Một trong những nhà thám hiểm của phương Tây đầu tiên đặt chân lên vùng Đông á là Marco Polo. Thời gian ở Châu á của Marco Polo phần lớn là ở Trung Quốc, nhưng ông cũng có dịp xuống phía Nam, tức là Việt Nam bây giờ. Ở đây Marco đã phát hiện ra một khu vực văn hoá cổ xưa với những mạch chảy văn hoá rất riêng biệt, có một trình độ phát triển khá cao và cũng rất phong phú. Trong những ghi chép về vùng đất phía Nam này, Marco Polo không hề giấu diếm thái độ khâm phục đối với một giai đoạn lịch sử của mảnh đất này. Cùng với đó, những cuộc khám phá về sau của những nhà nghiên cứu phương Tây khác đều có những nhận xét đồng tình với Marco. Với lợi thế là sở hữu một bờ biển dài, Việt Nam luôn là điểm đến đầy hứa hẹn của những hải trình xa xôi. Trong những ghi chép của các nhà nghiên cứu tới Việt Nam từ sau thế kỷ 13, ngoài hệ thống chữ Hán, chữ Nôm luôn được họ nhắc tới như một thứ chữ riêng của người Việt đã phát triển. Tương truyền rằng khi ấy ở sông Hồng cá sấu nhiều vô kể, sự xuất hiện của loài cá hung dữ đã gây biết bao khó khăn cho cuộc sống của cư dân nơi này. Nguyễn Thuyên là một học sĩ thời nhà Trần, ông có viết một bài thơ Nôm với tên gọi "Văn tế cá sấu" và đọc rồi đốt thả trôi trên sông Hồng. Cá sấu dần không thấy nữa, vì vậy tên tuổi của ông từ đó được gắn liền với câu chuyện huyền thoại này. Đó là một câu chuyện đầy màu sắc hoang đường, song những nhân vật gắn với chữ Nôm thì liên tục xuất hiện trong hiện thực, thời gian này người ta được biết tới cái tên Hồ Quý Ly. Những mẩu chuyện của cuộc đời ông tuy có những khúc mờ khúc tỏ. Nhưng những cống hiến của ông trong lĩnh vực chữ Nôm thì không ai không biết tới. Bên cạnh những sáng tác thơ Nôm của mình, Hồ Quý Ly còn có những cống hiến không chỉ trong việc phát triển hệ thống văn tự này, mà còn là một nhà Nho xuất sắc, ông đã dịch rất nhiều tác phẩm Nho học từ chữ Hán qua chữ Nôm. Tên tuổi được gắn với thời kỳ Nho giáo của Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển cao, Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà Nho đơn thuần, ông còn có đóng góp lớn lao cho triều đình.

Lúc này đây, chữ Nôm đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt của những cư dân nước Việt. Thời kỳ này, tên tuổi của một vị vua được nhắc nhiều đến trong việc phát triển nền văn hoá nước nhà nói chung và phát triển chữ Nôm nói riêng, đó chính là vua Lê Thánh Tông, đứng đầu hội Tao đàn nhị thập bát tú gồm 28 ngôi sao trong làng trí thức nước Việt, ông đã tạo nền cho sự phát triển của rất nhiều tác phẩm văn học giai đoạn này. Song chữ Nôm lúc bấy giờ trên thực tế vẫn chỉ được sử dụng như một phương tiện để sáng tác văn chương. Để ghi chép lại những sự kiện hàng ngày và ở trong phạm vi hoạt động dân gian chứ chưa có vai trò trong những văn bản của chính quyền.

Một giai đoạn dài kế tiếp sau đó, Việt Nam trải qua rất nhiều những biến động của lịch sử. Thời kỳ này, Việt Nam phải hứng chịu nhiều tác động từ những thế lực ngoại xâm. Trong những khó khăn như vậy, tinh thần dân tộc và lòng dũng cảm được hun đúc qua bao thế hệ lại được bộc lộ. Nền văn hoá Việt nói chung cũng như văn tự Nôm nói riêng dần phát triển và đứng vững qua những thử thách như thế. Rồi cuối cùng những chiến thắng của quân và dân Việt Nam cũng đã đưa dân tộc và kho tàng văn hoá của mình sang một trang sử mới. Văn tự Nôm cũng vì thế mà có những biến động tích cực. Được mệnh danh là người Anh hùng áo vải, Hoàng đế Quang Trung đã có một bước tiến thần tốc đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nạn ngoại xâm, đi đến nền độc lập của mình. Xuất thân từ một đất nước chuộng hoà bình và rất hiếu học, vị hoàng đế này không những tỏ rõ khí phách phi thường của một quân vương mà còn là một trong những ông vua yêu văn học của nước Việt. Trong thời kỳ trị vì đất nước, bên cạnh việc củng cố an ninh đất nước, Quang Trung còn hết sức mình làm dày dặn thêm cho kho tàng văn hoá dân tộc. Đặc biệt hơn, ông còn tỏ ra thành thạo trong việc sử dụng hệ thống chữ Nôm, văn tự của riêng người Việt. Thời kỳ về sau này, khi chữ Nôm đã ngày càng hoàn thiện, sự phát tán mở rộng khắp dân chúng thì các tác phẩm cùng những gương mặt đi kèm ngày càng nở rộ. Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương với những tác phẩm mạnh mẽ cho tới tận bây giờ vẫn còn nguyên đó những giá trị. Tất cả những tác phẩm của bà đều được sáng tác bằng chính chữ Nôm, thứ chữ như được dành riêng cho những áng thơ văn bất hủ của nước nhà. Những tác phẩm thơ bằng chữ Nôm ấy còn làm nên một tên tuổi, một phong cách sáng tác cho từng giai đoạn. Rồi Nguyễn Du với "Truyện Kiều" lưu danh muôn thủa, có lẽ giai đoạn này văn hoá Việt Nam và văn tự Nôm đã có những hoạt động mạnh mẽ tách dần khỏi văn hoá Hán vốn chi phối lâu nay, tạo bước đệm cho một thời kỳ văn hoá độc lập./.

Trân Trọng
Hà Phương Hoài
  Topic  
 New Topic  Reply to Topic
 Printer Friendly
Jump To:
Ca Dao Tục Ngữ © Hà Phương Hoài Go To Top Of Page
Powered By: Snitz Forums 2000 Version 3.4.06